TRANG CHUYÊN NGÔN NGỮ HỌC

CHÚC MỪNG NĂM MỚI!

Archive for the ‘Đối chiếu cấp độ từ vựng’ Category

Đối chiếu từ vựng – Bình diện cấu tạo hình thức

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 13, 2010

Lê Đình Tư

1. Đối chiếu cấu tạo hình vị của từ

– Các loại hình vị cấu tạo từ. Hình vị cấu tạo từ được chia thành hai loại: căn tố và phụ tố.

– Căn tố: là hình vị cơ bản, là yếu tố cấu trúc chính của từ. Căn tố là bộ phận có thể tách khỏi từ để hoạt động độc lập, vì đây thường là những từ gốc. Ví dụ: time-less.

– Phụ tố: là những hình vị được ghép với căn tố để tạo ra từ mới hoặc để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp.

Trong các ngôn ngữ biến hình, người ta phân biệt hình vị từ vựng- ngữ pháp (hoặc hình vị từ vựng) và hình vị ngữ pháp, nhưng trong các ngôn ngữ không biến hình, chỉ có hình vị từ vựng-ngữ pháp mà không có ý nghĩa ngữ pháp theo cách hiểu của ngôn ngữ học châu Âu.

Các phụ tố trong các ngôn ngữ thường được chia thành:

*Tiền tố: là phụ tố hình vị đứng trước căn tố. Ví dụ: in-famous (t. Anh).
* Hậu tố: là hình vị đứng sau căn tố. Ví dụ: happi-ness (t. Anh).
* Trung tố: là hình vị được đặt xem vào giữa căn tố. Ví dụ: l-b-eun (= tốc độ)) được tạo ra từ leun (= nhanh) (t. Khơme).
* Liên tố : là hình vị dùng để nối các căn tố với nhau, ví dụ: speed-o-meter trong tiếng Anh hay zieml-e-kop (t. Nga).
* Bao tố: còn gọi là hình vị không liên tục. Đây là những hình vị bao quanh căn tố cả về phía đầu lẫn phía cuối. Loại hình vị này xuất hiện chủ yếu ở một số ngôn ngữ của thổ dân châu Mĩ, nhưng thời gian gần đây có một số nhà nghiên cứu cho rằng bao tố được sử dụng rộng rãi hơn ở nhiều ngôn ngữ khác. Ví dụ: roz-płakać-się (= khóc òa) (t. Ba Lan).
* biến tố: là những hình vị thường đứng sau căn tố và phụ tố để thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp như: giống, số, cách, ngôi… Ví dụ: rek-a (t. Nga).

2. Những sự khác biệt về cấu tạo hình vị của từ trong các ngôn ngữ

– Các ngôn ngữ có sự khác biệt về cách sử dụng các phụ tố cấu tạo từ. Ví dụ: Các ngôn ngữ biến hình dùng các phụ tố để tạo từ mới nhưng tiếng Việt thường dùng cách ghép từ để tạo từ mới.

– Các ngôn ngữ biến hình có hiện tượng biến đổi ngữ âm của các hình vị cấu tạo từ, và do đó có khái niệm tha hình vị (alomorfem). Trong các ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt, khái niệm tha hình vị chỉ dùng cho những hình vị có cùng hình thức ngữ âm, có ý nghĩa khác nhau nhưng liên quan với nhau. Ví dụ: hình vị nhà trong: nhà máy và nhà chính trị; đánh trong: đánh bạn và đánh ghen.

– Vị trí của các phụ tố trong các ngôn ngữ có thể rất khác nhau. Ví dụ: t. Việt: tính ích kỉ/ t. Anh: selfishness

– Trong các ngôn ngữ, các hình vị có thể khác nhau về mức độ sản sinh: tính sản sinh của các hình vị ở ngôn ngữ này cao nhưng ở ngôn ngữ kia lại thấp. Ví dụ: Hình vị ‘máy’ để tạo các danh từ trong tiếng Việt có tính sản sinh rất cao: máy nổ, máy gặt, máy tiện…, nhưng trong nhiều ngôn ngữ hình vị tương đương đều có khả năng sản sinh ít hơn tiếng Việt.

– Các ngôn ngữ còn khác nhau về các phương thức cấu tạo từ. Sự khác nhau thường thể hiện ở hai mặt:
* Số lượng các phương thức, ví dụ: Trong tiếng Việt có phương thức láy để tạo từ mới nhưng một số ngôn ngữ không dùng phương thức này;
* Mức độ ưa chuộng các phương thức cấu tạo từ, ví dụ: tiếng Việt ưa chuộng phương thức ghép và phương thức láy, còn các ngôn ngữ Ấn-Âu thì ưa chuộng phương thức phụ gia và phương thức ghép.

_____________________________________________

Posted in Ngôn ngữ học đối chiếu, Đối chiếu cấp độ từ vựng | Thẻ: , , , , , | 1 Comment »

ĐỐI CHIẾU CẤP ĐỘ TỪ VỰNG

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 11, 2010

Lê Đình Tư

– Khác với hệ thống ngữ âm-âm vị, vốn là một hệ thống đóng kín, hệ thống từ vựng là một hệ thống tương đối mở, bao gồm rất nhiều đơn vị. Do vậy, khi đối chiếu từ vựng của hai ngôn ngữ, trước hết cần phải giới hạn phạm vi nghiên cứu đối chiếu: đối chiếu bộ phận nào của từ vựng, ví dụ: từ chỉ quan hệ thân thuộc; từ chỉ chỉ chức vụ-nghề nghiệp; từ chỉ động vật nuôi; từ chỉ các món ăn (văn hóa ẩm thực)|; từ chỉ các loại cây cỏ thông thường; từ chỉ các công cụ sản xuất thông thường; từ chỉ tên riêng; từ chỉ hoạt động thông thường; từ chỉ tính chất thông thường; từ ngoại lai…

– Mỗi đơn vị từ vựng là một loại tín hiệu gồm ít nhất hai mặt: mặt cấu tạo hình thức và mặt ngữ nghĩa. Điều đó có nghĩa là trước khi thực hiện công việc đối chiếu các bộ phận từ vựng, cần phải xác định rõ bình diện của các đơn vị từ vựng được lấy làm đối tượng đối chiếu: đối chiếu về phương thức (cách thức) cấu tạo hay đối chiếu về ý nghĩa.

– Từ là đơn vị từ vựng có nhiều chức năng: chức năng biểu hiện/tác động, chức năng thông báo, chức năng thi ca, chức năng siêu ngôn ngữ. Do đó có thể đối chiếu ý nghĩa của các đơn vị từ vựng trong hệ thống ngôn ngữ hoặc trong sự hành chức của chúng.

Nói cách khác, có thể đối chiếu các đơn vị từ vựng về mặt ngữ nghĩa hoặc về mặt ngữ dụng.

Như vậy, có thể đối chiếu các đơn vị từ vựng trên ba bình diện : bính diện cấu tạo hình thức, bình diện ngữ nghĩa và bình diện ngữ dụng.

(còn nữa)
_______________________________________________

Posted in 1, Ngôn ngữ học đối chiếu, Đối chiếu cấp độ từ vựng | Thẻ: , , , | 3 Comments »