TRANG CHUYÊN NGÔN NGỮ HỌC

CHÚC MỪNG NĂM MỚI!

Archive for the ‘Ngữ pháp học’ Category

4. Sự liên kết nội dung trong văn bản tiếng Việt (tiếp theo)

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 6, 2012

4.2 Liên kết lô gích

4.2.1 Dùng các phương tiện nối kết

Để duy trì tính mạch lạc của văn bản, các phát ngôn còn phải được liên kết với nhau theo những quan hệ gọi là quan hệ lô gích. Đó là những kiểu quan hệ khác nhau giữa các sự kiện, ví dụ như: quan hệ liên hợp, quan hệ phủ định, quan hệ lựa chọn, quan hệ loại trừ, quan hệ bao hàm, quan hệ nhân-quả, quan hệ thời gian, v.v.

Đối với sự liên kết lô gích giữa các phát ngôn của văn bản thì các phương tiện nối kết như các kết từ (ví dụ: và, còn, nhưng, song, mặc dù, dù, dẫu, thì,…), phụ từ (ví dụ: cũng, lại, cứ, luôn,…) hay những từ ngữ chuyên dùng để nối kết (ví dụ: như vậy, quả vậy, quả thật, ấy thế nhưng, cuối cùng, rốt cuộc, không những thế,…) được sử dụng nhiều nhất để nối các phát ngôn hoặc các phần nội dung (ví dụ: các đoạn văn) của văn bản theo các quan hệ lô gích. Trong tiếng Việt, biện pháp này được gọi chung là ‘phép nối’, tức là sử dụng các phương tiện nối kết (xem chẳng hạn: Trần Ngọc Thêm 2006) .

Các phương tiện nối kết có tác dụng bộc lộ rõ ràng nhất sự liên kết giữa các phát ngôn, vì vậy đây là phương thức được sử dụng phổ biến trong những loại văn bản đòi hỏi sự liên kết lô gích rõ ràng: văn bản khoa học, văn bản chính luận và văn bản hành. Trong khẩu ngữ, các phương tiện nối kết cũng được sử dụng nhiều để bảo đảm cho thông tin được truyền đạt chính xác.
Ví dụ:

(i)                Dùng kết từ:

Căn hộ được thuê với giá thỏa thuận là 500 USD/tháng (năm trăm đôla/tháng). Thời gian hợp đồng là 02 (hai) năm kể từ ngày kí. Nhưng ngày 15 tháng 5 năm 1996, bà Trần Thị Bích đã đưa ra đề nghị với chúng tôi là muốn rút ngắn thời gian hợp đồng đến hết tháng 10 năm 1996.  (công văn)

hoặc:

Nói riêng về doanh nhân Á châu, phần lớn người Trung Quốc và Việt Nam gặp phải một vấn đề là sĩ diện. Có lẽ vì mặc cảm thôi. (PL TP HCM)

(ii)             Dùng phụ từ:

Trước đó, bố của Phú là ông La Phúc Thông đang bình thường khoẻ mạnh bỗng muốn chết vì lúc nào cũng tưởng tượng cảnh bị người khác đuổi giết. Rồi một ngày, ông Thông kết liễu đời mình bằng chính cây lá ngón có trong vườn nhà. (Kienthuc.net.vn)

(iii)           Dùng từ ngữ chuyên dùng:

Xưa nay, không ai chết đến lần thứ hai để được bài học kinh nghiệm về cách chết. Bởi vậy, vẫn có nhiều người chết một cách ngờ nghệch.”  (Nguyễn Công Hoan)

4.2.2. Sắp xếp các phát ngôn theo một trật tự lô gích

Các quan hệ lô gích giữa các phát ngôn không chỉ được thể hiện bằng các phương tiện nối kết mà còn có thể bằng sự sắp xếp các phát ngôn theo một trật tự phù hợp với quan hệ lô gích giữa các sự kiện mà các phát ngôn đó biểu đạt. Cách sắp xếp các phát ngôn theo một trật tự nhất định để tạo ra sự liên kết được gọi là phép tuyến tính.  Biện pháp này hay được sử dụng trong các tác phẩm văn học chứ ít được dùng trong các văn bản khoa học, chính luận hay hành chính, bởi nó có thể gây nên những cách hiểu khác nhau. Chẳng hạn, trong ví dụ sau: “Nó khuỵu cẳng. Một củ khoai ở mẹt biến mất.”, ta có thể giải thích mối quan hệ ở đây là quan hệ nhân-quả (‘Vì nó khuỵu cẳng nên củ khoai ở mẹt biến mất’) nhưng cũng có thể hiểu đó là quan hệ thời gian (‘Sau khi nó khuỵu cẳng thì củ khoai ở mẹt biến mất’), hay quan hệ liên hợp (‘Nó khuỵu cẳng và một củ khoai ở mẹt biến mất’). Thông thường, ta chỉ nhận ra biện pháp này khi không có các biện pháp liên kết khác được sử dụng. Sau đây là một số trường hợp sử dụng điển hình:

(i)                Sắp xếp theo quan hệ thời gian–nhân quả:

Sau bữa tối, không một ai muốn chơi đùa vui vẻ nữa. Chẳng mấy chốc tiểu thư Rita và Terestka ra về. (CH)

(ii)             Sắp xếp theo quan hệ thời gian thuần túy:

Đến lúc tối trời Phan mới về đến nhà. Anh treo bức tranh con mèo lên cái đinh nằm một góc phòng khách rồi bật đèn ngủ. (BTCM)

(iii)           Sắp xếp theo quan hệ nhân-quả thuần túy:

Cổng ra vào đã khóa. Tôi tìm đến nơi có một cái cây mọc sát tường, leo lên cây rồi đu qua tường, xong nhảy ra ngoài. (QLCTC)

(iv)           Sắp xếp theo quan hệ bao hàm:

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây dựng nước Việt Nam độc lập.” (HCM).

  ______________________________

Advertisements

Posted in Ngôn ngữ học miêu tả, Ngữ pháp học, Ngữ pháp miêu tả tiếng Việt | Tagged: , , , , , , , | 1 Comment »

Một số vấn đề về ngữ pháp văn bản tiếng Việt (tiếp theo)

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tư 15, 2012

4. Sự liên kết nội dung trong văn bản tiếng Việt

Khác với ở bình diện liên kết hình thức, ở bình diện liên kết nội dung (hoặc liên kết ngữ nghĩa), các phương tiện liên kết phong phú hơn rất nhiều. Ở đây có thể quan sát thấy sự tham gia của tất cả các yếu tố ngôn ngữ trong việc tạo ra tính hoàn chỉnh về nội dung của văn bản.

Liên kết nội dung trước hết nhằm tới ba mục tiêu: (i) thể hiện được chủ đề của văn bản, (ii) tạo được tính chặt chẽ, lôgích của văn bản và (iii) kết nối được các văn bản, nếu cần, trong những tình huống giao tiếp nhất định. Điều này có nghĩa là liên kết nội dung văn bản quyết định tới việc, liệu văn bản có thỏa mãn được sáu đặc trưng còn lại (tức là trừ đặc trưng về ‘tính liên kết hình thức’) của văn bản hay không.

4.1 Liên kết chủ đề

4.1.1 Lặp từ vựng

Để bảo đảm cho văn bản có tính liên kết chủ đề, nghĩa là các câu phải cùng hướng tới việc thể hiện một chủ đề cho trước, thì biện pháp đơn giản nhất là lặp từ vựng. Biện pháp lặp từ vựng, nói chung, dựa trên việc sử dụng những yếu tố từ vựng (từ, tên gọi, cụm từ) trong các phát ngôn khác nhau, khiến cho chủ đề của văn bản được duy trì. Tuy nhiên, ở đây có thể quan sát thấy hai hiện tượng lặp từ vựng: ‘lặp cả âm và nghĩa’ và ‘lặp nghĩa’.

(1) Lặp cả âm và nghĩa, tức là lặp lại trong một/ những phát ngôn mới những đơn vị từ vựng đã được sử dụng ở một phát ngôn khác. Trong thực tế, cũng giống như trong lặp ngữ âm và lặp ngữ pháp, các đơn vị từ vựng có thể được lặp lại đầy đủ hoặc chỉ được lặp lại một bộ phận. Vì vậy, có thể phân biệt ‘lặp hoàn toàn’ và ‘lặp bộ phận’.

Trong trường hợp lặp từ, biện pháp chủ yếu là lặp hoàn toàn, mặc dù cũng có thể quan sát thấy những trường hợp lặp bộ phận. Ví dụ:

(i) Lặp hoàn toàn:

Tôi nghĩ đó là chuyện buồn. Tôi chưa đến bảy mươi. Mặc dầu vậy xin đừng kể, ngày hôm nay xin đừng kể bất cứ điều gì buồn. (CĐTM)

(ii) Lặp bộ phận:

Tôi không ưa danh thiếp, đó là một thứ biểu hiện quy ước, thường là giả dối. Bản thân tôi cũng ít khi gửi thiếp. (CH)

Đối với trường hợp lặp cụm từ thì lặp bộ phận thường được dùng để tránh gây cảm giác nặng nề, hoặc để tiết kiệm lời. Khi lặp bộ phận, người ta thường phải dùng đại từ chỉ định (này, ấy, đó …) để tăng thêm tính liên kết giữa các câu. Tuy nhiên, đối với các tên gọi của các tổ chức, cơ quan hay phong trào… thì không nhất thiết phải dùng đại từ chỉ định đó. Ví dụ:

(i) Lặp hoàn toàn:

Bình thường thì các thi hài được chuyên chở bằng máy bay trong những chiếc quan tài kẽm đặc biệt.[…]. Ở Lvov không có quan tài kẽm cho Natalia. (CĐTM)

(ii) Lặp bộ phận:

Ban lãnh đạo Phòng thể dục thể thao quận đã xuống hiện trường cùng công an quận, phường tiến hành lập biên bản và điều tra sự việc. Sau đó đại diện ban lãnh đạo Phòng và Chủ nhiệm hồ bơi Chi Lăng đã đến gia đình nạn nhân thăm hỏi chia buồn và hỗ trợ cho gia đình số tiền là 2.000.000 đ để lo mai táng. (Tờ trình)

(2) Lặp nghĩa

‘Lặp nghĩa’ cũng dựa trên việc ‘lặp lại’ nhưng chỉ là lặp nội dung chứ không lặp âm thanh của của một từ, một tên gọi hay một cụm từ. Biện pháp này không chỉ có tác dụng tạo sự liên kết cho văn bản mà còn tránh được cảm giác đơn điệu hoặc bổ sung những thông tin phụ (ví dụ: sư đánh giá tốt/ xấu hay diễn đạt những sắc thái nghĩa khác nhau). Thực chất, đây là biện pháp sử dụng một đơn vị tương đương để thay thế cho một đơn vị đã được sử dụng trong một phát ngôn khác.

Những đơn vị có thể thay thế nhau phải là những đơn vị có nghĩa/ giá trị tương đương nhau nên ‘từ đồng nghĩa’ thường được dùng làm phương tiện để lặp nghĩa. Tuy nhiên, trong ngôn ngữ, nói chung, thường ít xảy ra hiện tượng đồng nghĩa hoàn toàn mà chủ yếu là hiện tượng gần nghĩa, nên biện pháp này có thể thay đổi một phần ý nghĩa được lặp lại, tức là bổ sung cho nó một nội dung nào đó (xem bên dưới). Vì vậy, phương thức lặp đồng nghĩa có tác dụng làm cho văn bản trở nên đa dạng và phong phú. Ngoài từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa, còn có những phương tiện khác cũng được dùng để lặp nghĩa như: đại từ, cách nói vòng hay hoán dụ… Ví dụ:

(i) Lặp nghĩa dùng yếu tố đồng nghĩa:

Sinh nhật. Anh đã ra đời như thế nào nhỉ? (CĐTM)

(ii) Lặp nghĩa dùng đại từ:

Anh thì thầm. Đôi khi anh thì thầm bằng tiếng Pháp. Cô thích nhất thế. (CĐTM)

(iii) Lặp nghĩa dùng cách nói vòng:

Nhiều người bảo chùa Bà Đanh không linh, không ai đến là sai. Mặt khác làng Đanh Xá hy vọng rằng, cái tên ngôi chùa vắng sẽ được nhiều người biết đến bằng cái tên ngôi chùa đệ nhất khách. (báo GDVN)

(iv) Lặp nghĩa dùng hoán dụ:

Người mẫu không chỉ có thù lao thấp hơn mà số sô diễn trong ngày, trong tuần cũng không bao giờ bằng ca sĩ. Giỏi lắm một siêu mẫu có chừng ba sô diễn một tuần đã là “như mơ”. Trong khi với những ca sĩ đương thời thì một đêm chạy sô bốn điểm diễn là bình thường, hỏi sao các chân dài hiện nay không tính đường lấn sân ca hát dù thực lực có hạn! (báoTuổi trẻ)

4.1.2 Đối nghĩa

Đối nghĩa là phương thức liên kết chủ đề sử dụng những đơn vị ngôn ngữ (từ hoặc cụm từ) có ý nghĩa đối lập nhau trong những phát ngôn khác nhau để tạo ra sự liên kết nội dung giữa các phát ngôn đó. Tuy nhiên, khái niệm ‘nghĩa đối lập’ không đồng nhất với khái niệm ‘từ trái nghĩa’, vì ở đây các yếu tố có nghĩa đối lập không phái bao giờ cũng là những từ trái nghĩa mà có thể chỉ là những yếu tố được xã hội hay cá nhân nhìn nhận là có nghĩa đối lập nhau, vi dụ như: xuân/hạ/thu/đông, hay thậm chí: cao/lắm, rộng/nhiều. (xem ví dụ bên dưới). Do vậy, sự đối lập nghĩa trong những trường hợp này thường mang tính chất lâm thời và thể hiện tính sáng tạo của các cá nhân.

Trong tiếng Việt, đối nghĩa được sử dụng như là biện pháp liên kết quan trọng nhất trong những văn bản đặc biệt gọi là ‘câu đối’. ví dụ:

Nhà cao cửa rộng con rể ở

Tiền lắm bạc nhiêu cháu ngoại tiêu.

Trong các văn bản bình thường, sự đối lập nghĩa thường gần với hiện tượng trái nghĩa hơn, trong đó có cả hiện tượng đối phủ định, ví dụ:

Những người yếu đuối vẫn hay hiền lành. Muốn ác phải là kẻ mạnh.

hoặc:

Nếu trạng thái yêu kéo quá dài, con người sẽ chết vì kiệt sức, rối loạn nhịp tim hoặc tim đập nhanh, vì đói hoặc hội chứng mất ngủ. Những người dù sao cũng không bị chết, thì trong trường hợp khá nhất cũng phải vào bệnh viện tâm thần. (CĐTM)

4.1.3 Liên tưởng

Biện pháp liên tưởng thể hiện ở việc sử dụng trong những phát ngôn khác nhau những đơn vị ngôn ngữ (từ, cụm từ) có liên quan về nghĩa với nhau hoặc được liên hệ mạnh mẽ với nhau để tạo sự liên kết giữa các phát ngôn đó.

Sự liên tưởng luôn luôn dựa trên hai loại quan hệ: nội ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ, do đó ở đây có thể có hai kiểu liên tưởng:

(i) Liên tưởng dựa trên quan hệ nội ngôn ngữ (trong phạm vi của cái gọi là trường nghĩa), ví dụ:

Ở đây tuyệt nhiên không có một nhà thờ nào. Mà em thì muốn cầu nguyện biết bao. Dù sao thì em vẫn muốn cầu nguyện. Em mang theo cây thánh giá bằng gỗ của mẹ. (CĐTM)

(ii) Liên tưởng dựa trên quan hệ ngoài ngôn ngữ (liên quan đến kiến thức ngoài ngôn ngữ), ví dụ:

Có lẽ tôi không còn là người Xlavơ nữa. Tôi không uống rượu, rất đúng giờ, giữ lời hứakhông tổ chức các cuộc khởi nghĩa. (CĐTM).

Những yếu tố như: thuộc tính điển hình, vị trí điển hình hay chức năng điển hình của người/ sự vật là những yếu tố quyết định đến khả năng sử dụng biện pháp liên tưởng ngoài ngôn ngữ.

4.1.4 Tỉnh lược

Tỉnh lược là biện pháp lược bỏ một/ một số thành phần nào đó của một phát ngôn nhằm tránh lặp lại chúng trong một/ những phát ngôn khác. Chính nhờ sự lược bỏ này mà các phát ngôn có quan hệ chặt chẽ với nhau. Biện pháp này còn có tác dụng tránh lặp từ vựng và lặp nghĩa (không dùng yếu tố đồng nghĩa hay đại từ). Yếu tố tỉnh lược có thể là bất cứ thành phần nào đó của phát ngôn. Ví dụ:

Từ lâu anh đã thích mùi nước hoa. Chúng như một bức thông điệp mà người ta muốn truyền đạt. Mà không cần đến bất cứ một ngôn ngữ nào.

Hoặc:

Cô đam mê ngủ. Đặc biệt là thời gian gần đây. Cô có những giấc mơ không bình thường. (CĐTM)

(còn nữa)

Posted in Ngữ pháp học, Ngữ pháp miêu tả tiếng Việt | Tagged: , , , , , , , , , | Leave a Comment »

Một số vấn đề về ngữ pháp văn bản tiếng Việt (tiếp theo)

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 25, 2012

2.3 Những đặc trưng của văn bản
Văn bản tiếng Việt hiện nay cũng được xem xét trên các bình diện đã nói ở trên. Tuy nhiên, trong thực tế nghiên cứu và miêu tả, các bình diện của văn bản không phải bao giờ cũng được xem xét một cách riêng rẽ mà có thể được xem xét kết hợp dưới góc độ một đặc trưng nào đó của nó. Chẳng hạn, tính liên kết của văn bản không chỉ được miêu tả trên bình diện cấu tạo hình thức mà còn cả trên bình diện nội dung của nó, nghĩa là có thể nói tới ‘sự liên kết hình thức’ và ‘sự liên kết nội dung’ của văn bản. Chính vì vậy, khi nghiên cứu về ngữ pháp văn bản, người ta thường tiếp cận văn bản từ phía các đặc trưng của chúng. Đó là những đặc trưng giúp ta nhận biết văn bản trong số những đơn vị ngôn ngữ khác không phải là văn bản (gọi chung là ‘tính văn bản’ hay ‘các phạm trù của tính văn bản’). Trong ngữ pháp văn bản, người ta thường nêu lên những đặc trưng chủ yếu sau đây [dựa theo đề xuất của Beaugrande i Dressler(1990)]:
– tính liên kết (kohezja),
– tính mạch lạc (koherencja),
– tính chủ định (intencjonalność),
– tính chấp nhận được (akceptowalność),
– tính thông tin (informacyjność),
– tính tình huống (sytuacyjność) ,
– tính liên văn bản (intertekstualność)
Cũng chính vì vậy, văn bản được định nghĩa là ‘một sự kiện giao tiếp đáp ứng được bảy tiêu chuẩn về tính văn bản” nói trên. Nếu thiếu bất kỳ một tiêu chuẩn nào trong số đó thì „văn bản” cũng không mang tính giao tiếp, mà không có tính giao tiếp thì ngôn phẩm sẽ không phải là văn bản.

2.4 Phân loại văn bản
Nói chung, cho đến nay, việc phân loại văn bản trong giới ngôn ngữ học thường không nhất quán, đó là vì văn bản có thể được phân loại theo những cách khác nhau, tùy theo góc độ quan sát văn bản. Chẳng hạn, có thể phân biệt những cặp văn bản đối lập như ‘văn bản nói’/ văn bản viết’; ‘văn bản ngẫu sinh’/ ‘văn bản tái sinh’ (‘sao chép’); ‘văn bản công khai’/ ‘văn bản riêng tư’; ‘văn bản thông dụng’/ ‘văn bản nghệ thuật’; ‘văn bản tự sự’/ văn bản mô tả’…
Trong tiếng Việt, văn bản cũng có thể phân loại theo những cách khác nhau, cụ thể như sau:
(i) Xét về dạng thức tồn tại: ‘văn bản nói’ và ‘văn bản viết’. Tuy nhiên, ở đây cần phải nhấn mạnh rằng, sự phân biệt hai loại văn bản như trên không chỉ căn cứ vào dạng thức tồn tại mà trước hết là căn cứ vào những đặc điểm của những phương tiện dùng để cấu tạo nên văn bản (ví dụ: đặc điểm của từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp).
(ii) Xét về kiểu cấu tạo: ‘văn bản ổn định’, được xây dựng theo những mô hình đã trở thành khuôn mẫu (ví dụ: đơn từ, tờ khai, hợp đồng), ‘văn bản thông dụng, được xây dựng theo một mô hình thông dụng, có tính đến những yếu tố như thói quen truyền thống, trình tự trình bày các phần (ví dụ: tiểu luận, luận văn khoa học, tờ trình), và ‘văn bản tự do’, được xây dựng không theo một mô hình hay bố cục nhất định nào mà do người viết tự ý sáng tạo ra (ví dụ: tác phẩm văn học, sách khoa học thường thức)
(iii) Xét về phong cách chức năng: ‘văn bản hành chính’, ‘văn bản báo chí-chính luận’, ‘văn bản khoa học’ và ‘văn bản văn chương’.

Ngoài ra, có thể phân biệt các văn bản về mặt quy mô. Xét về mặt này, có thể phân biệt: ‘văn bản một phần’ (chỉ bao gồm phần tin), ‘văn bản hai phần’ (phần mở đầu và phần tin) và ‘văn bản ba phần’ (mở đầu, phần tin và phần kết).

3. Sự liên kết hình thức giữa các câu trong văn bản tiếng Việt

Để liên kết hình thức các câu/ phát ngôn (từ đây sẽ gọi chung là phát ngôn) trong văn bản, tiếng Việt sử dụng một số ‘yếu tố ngữ âm’ (âm tiết, vần, phụ âm đầu, thanh điệu) và ‘yếu tố ngữ pháp’ (hư từ, cấu trúc ngữ pháp). Phương thức sử dụng các yếu tố liên kết này là ‘lặp lại’ chúng trong những phát ngôn khác nhau và nhờ đó tạo ra sự liên kết giữa các phát ngôn đó.

3.1. Lặp ngữ âm
Phép ‘lặp ngữ âm’ thường được dùng trong các tác phẩm thi ca, (hay chung hơn: ‘văn vần’). Trong các loại văn bản khác, gọi chung là ‘văn xuôi’, phương thức này ít khi được sử dụng.
Trong văn vần, trước tiên phải nói đến phương thức ‘lặp số lượng âm tiết’. Phương thức này cho phép tạo ra các thể thơ khác nhau. Chẳng hạn, nếu số lượng các âm tiết được lặp đi lặp lại đều đặn giữa các câu kế tiếp nhau thì ta sẽ có các thể thơ bốn chữ, thơ năm chữ hay thơ bảy chữ… So sánh:

1) Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt
Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt

(ca dao)

2) Đường lúc hoàng hôn xuống,
Là lúc viễn khách đi.
Nước đượm màu li biệt,
Trời vương hương biệt li

(Xuân Diệu – Viễn khách)

3) Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son
.
(Hồ Xuân Hương – Bánh trôi nước)

Còn nếu số lượng âm tiết được lặp lại ở những câu đứng cách nhau hoặc kết hợp cả hai cách lặp nói trên thì ta có các thể thơ lục bát hay song thất lục bát. So sánh:

4) Bao giờ anh lấy được nàng,
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây.
Xây dọc rồi lại xây ngang,
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
.
(ca dao)

(5) Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ
Chàng há từng học lũ vương tôn.
Cớ sao cách trở nước non,
Khiến người thôi sớm, thôi hôm, những sầu
.
(Đoàn Thị Điểm – Chinh phụ ngâm)

Phương thức ‘lặp vần’ cũng là một phương thức lặp ngữ âm phổ biến để tạo ra sự liên kết giữa các câu thơ. Tuy nhiên, các vần không phải bao giờ cũng được lặp lại hoàn toàn mà có thể chỉ là lặp một phần nhưng phải tuân theo những nguyên tắc về luật hài âm. Ví dụ:

(i) Lặp hoàn toàn:

Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non.

(Chinh phụ ngâm)

(ii) Lặp bộ phận:
Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường?

Ngoài ra, còn có ‘lặp âm tiết’, nhưng theo kết quả nghiên cứu (ví dụ: Trần Ngọc Thêm), phương thức này ít khi được sử dụng.
Trái lại, trong văn xuôi, phương thức lặp vần tuy cũng được sử dụng nhưng rất ít gặp. Phương thức lặp ngữ âm phổ biến ở đây là lặp số lượng âm tiết và thường đi kèm với ‘lặp ngữ pháp’. (xem bên dưới). Đó là do phương thức lặp ngữ âm trong văn xuôi chỉ tạo ra một độ liên kết không đáng kể, chủ yếu là tạo cho văn bản văn xuôi tính nhạc điệu hay âm hưởng thơ.

3.2 Lặp ngữ pháp
Phương thức ‘lặp ngữ pháp’ thể hiện ở việc lặp lại một hay một số yếu tố ngữ pháp của một phát ngôn ở một phát ngôn khác để tạo ra sự liên kết giữa chúng.
Như vậy, lặp ngữ pháp bao gồm ‘lặp từ ngữ pháp’ (còn gọi là ‘lặp hư từ’) và ‘lặp cấu trúc ngữ pháp’ (còn gọi là ‘lặp cú pháp’) của các phát ngôn. Thông thường, để tăng thêm độ liên kết của hai phát ngôn, người ta kết hợp sử dụng cả hai phương thức này, nghĩa là lặp cả cấu trúc ngữ pháp và hư từ. Có thể quan sát thấy những trường hợp sau:

(i) Chỉ lặp cấu trúc ngữ pháp, ví dụ:
“Từng ngày, mẹ thầm đoán con đã đi đến đâu. Từng giờ, mẹ thầm hỏi con đang làm gì.” (Nguyễn Thị Như Trang. Tiếng mưa).

(ii) Chỉ lặp từ ngữ pháp, ví dụ:
“Nước Việt Nam muôn ngàn cây lá khác nhau. Cây nào cũng đẹp, cây nào cũng qúy, nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa.” (Thép Mới – Cây tre)

(iii) Lặp cấu trúc và từ ngữ pháp, ví dụ:
Nếu không có nhân dân thì không đủ lực lượng. Nếu không có chính phủ thì không ai dẫn đường.” (Hồ Chí Minh).

Kiểu lặp này rất phổ biến trong các văn bản tiếng Việt, nhất là các văn bản cổ.
Nói chung, trong trường hợp này, lặp cú pháp là phương thức cơ bản. Và, như đã nói ở trên, lặp cấu trúc có thể được kết hợp với lặp ngữ âm. [trường hợp (iii)].
Cũng giống như ở phương thức lặp ngữ âm, ở đây cũng có thể có ‘lặp hoàn toàn’ và ‘lặp một phần’.

(còn nữa)

Posted in Ngữ pháp học, Ngữ pháp miêu tả tiếng Việt | Tagged: , , , , , , , , , , | Leave a Comment »

Phương tiện biểu thị nghĩa ngữ pháp (tiếp theo)

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 18, 2011

9. Các phương tiện biểu thị ý nghĩa cầu khiến/mệnh lệnh

Các từ dùng để biểu thị ý nghĩa cầu khiến/mệnh lệnh được chia thành hai nhóm: 1) phó từ và 2) từ tình thái.

– Những phó từ dùng để tạo câu mệnh lệnh là: hãy, đi, đừng, chớ. (xem lại phần Phụ từ)

– Những từ tình thái dùng để biểu thị ý nghĩa cầu khiến/động viên/thúc giục là: nào, vào, thôi, nhé.

+ Bình thường, chỉ cần sử dụng những từ nói trên cũng đủ thể hiện ý nghĩa cầu khiến/động viên/thúc giục. Ví dụ:
1) Mọi người vào đây cả nào!
2) Hết giờ rồi, về thôi!
3) Anh mua nhiều nhiều vào!
4) Đi cẩn thận nhé!

+ Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, ta có thể kết hợp các từ tình thái này với các phó từ ‘hãy’, ‘đi’ đã nêu ở trên để tăng thêm ý nghĩa cầu khiến/mệnh lệnh. Ví dụ:
1) Mọi người hãy vào đây cả nào!/ Mọi người hãy vào đây cả đi nào!
2) Anh hãy mua nhiều nhiều vào!
3) Hết giờ rồi, hãy về thôi!/ Hết giờ rồi, hãy về đi thôi!
4) Hãy đi cẩn thận nhé!/ Hãy ăn no đi nhé!

+ Ngoài ra, từ ‘nhé’, ‘nào’ còn có thể kết hợp với các từ ‘thôi’, ‘vào’ thành cặp để tăng thêm ý nghĩa động viên/thúc giục và tính biểu cảm. Ví dụ:
1) Hết giờ rồi, về thôi nào!/ Hết giờ rồi, về thôi nhé!
2) Con đi đứng cẩn thận vào nào!/ Con đi đứng cẩn thận vào nhé!

– Ngoài các từ nêu trên, với một số trường hợp, ta còn có thể sử dụng phó từ ‘lên’, và cũng có thể kết hợp nó các từ ‘nào’, ‘nhé’ nói trên để thể hiện ý nghĩa cầu khiến/ động viên/ thúc giục. Tuy nhiên, từ ‘lên’ có thể dùng với các tính từ. Ví dụ:
1) Cười lên!</Cười lên nào!/ Cười lên đi!/ Hãy cười lên đi!
2) Tươi lên!/ Tươi lên nhé!/ Hãy tươi lên nào!

10. Các phương tiện biểu thị ý nghĩa dạng

Để biểu thị ý nghĩa ‘dạng bị động’, tiếng Việt dùng hai nhóm từ: 1) các phụ từ: ‘được’, ‘bị’, và 2) các giới từ: ‘do’, ‘bởi’.

– Các phụ từ ‘được’ và ‘bị’ vốn là những động từ (xem lại phần Từ loại tiếng Việt) đã được ngữ pháp hóa, do đó khi sử dụng cần phân biệt hai chức năng của chúng: chức năng biểu thị sự may/rủi và chức năng biểu thị ‘dạng bị động’ của động từ. Ví dụ, so sánh:
1) Người kia được cơm rượu lại được ba quan tiền. (‘được’ là động từ)
2) Ra đường, phụ nữ thường được nhìn kĩ hơn. (‘được’biểu thị dạng bị động)

– Từ ‘được’ dùng để biểu thị ‘dạng bị động’ nhưng có kèm theo nghĩa ‘tích cực’, vì vậy, về nguyên tắc, ta chỉ có thể kết hợp nó với những động từ có nghĩa ‘tích cực’ như: khen, tặng, thưởng, yêu, thương, xây dựng, …mà không thể kết hợp nó với những động từ có nghĩa ‘tiêu cực’ như: ghét, đánh, mắng, bỏ tù, từ chối,… Ví dụ:
1) Chị Hà được thưởng Tết 10 triệu đồng. (+)
2) Một cô gái được giết trong khách sạn. (-)

– Trái lại, từ ‘bị’ dùng để biểu thị ‘dạng bị động’ nhưng có kèm theo nghĩa ‘tiêu cực’, vì vậy, về nguyên tắc, ta chỉ có thể kết hợp nó với những động từ có nghĩa ‘tiêu cực’,… mà không thể kết hợp nó với những động từ có nghĩa ‘tiêu cực’. Ví dụ:
1) Vì anh mà em bị mắng. (+)
2) Cuốn tiểu thuyết đã bị tặng thưởng giải nhất của Hội Nhà văn. (-)

– Trên đây là những ví dụ về câu dạng bị động chỉ có chủ ngữ (ngữ pháp) mà không có ‘chủ thể’ của hành động/hoạt động. Nguyên tắc chung khi sử dụng ‘được’ và ‘bị’ trong trường hợp này là: đặt các phụ từ này trực tiếp trước các động từ. Đối với những câu bị động có cả chủ ngữ (ngữ pháp) và ‘chủ thể’ của hành động/hoạt động, cần phải tuân theo mô hình kết cấu chung như sau:

S + (được/bị) + A + V

Ví dụ:
1) Bài ca của ông được nhiều người mến mộ.
3) Nó vừa bị cô ấy tát cho hai cái.

– Các giới từ ‘do’, ‘bởi’ có ý nghĩa trung hòa và thường được dùng theo mô hình kết cấu sau:

N + (do) + A + V (‘do’ thay cho ‘được’/ ‘bị’)
N + (được/bị) + V + (bởi) + A

Ví dụ:
1) Đây là loại ôtô do công ti Toyota sản xuất.
2) Bộ bàn ghế được làm ra bởi những người thợ tài hoa.

Ghi chú:

* Trong thực tế có thể bắt gặp những trường hợp, trong đó ‘được/bị’ được dùng không theo nguyên tắc đã nêu ở trên. Đó là cách sử dụng mang tính chất tu từ và do đó ý nghĩa của các từ này có thể thay đổi. Ví dụ:
1) Chẳng ai muốn bị cô ấy yêu.
2) Được thủ trưởng nhắc nhở là một vinh dự.

* Cũng có thể bắt gặp những trường hợp, trong đó ‘được’ và ‘bị’ được sử dụng cùng với nhau. Đó cũng là những trường hợp sử dụng mang tính chất tu từ và ý nghĩa chung sẽ phụ thuộc vào ‘được’ (nghĩa ‘tích cực’). Ví dụ:

Bà vẫn ao ước được … bị hiếp dâm nữa mà không bao giờ cái dịp hiếm có ấy lại tái hiện. (Vũ Trọng Phụng)

* Ngoài ra, có những trường hợp, trong đó việc sử dụng cả ‘được’và ‘bị’ đều có thể được chấp nhận. Khi ấy sự khác nhau về nghĩa (tốt hay xấu) sẽ phụ thuộc vào thái độ của người nói đối với hiện thực. Ví dụ:
1) Nội dung tờ quảng cáo đã bị thay đổi.
2) Nội dung tờ quảng cáo đã được thay đổi.

_______________________________________________________

Posted in Ngôn ngữ học miêu tả, Ngữ pháp học, Ngữ pháp miêu tả tiếng Việt | Tagged: , , , , , , , , | Leave a Comment »

Phương tiện biểu thị nghĩa ngữ pháp (tiếp theo)

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 11, 2011

7. Các phương tiện thể hiện ý nghĩa thời

Các từ dùng để thể hiện ý nghĩa thời trong tiếng Việt gọi là phó từ chỉ thời gian.

– Phó từ chỉ thời gian là các từ: đã, chưa, đang, sẽ, vừa, mới, sắp, từng. (xem lại phần Phụ từ).

Trong tiếng Việt, vấn đề ‘thời’ hiện chưa được giải quyết một cách thống nhất. Có quan điểm cho rằng tiếng Việt không có phạm trù ‘thời’ mà chỉ có phạm trù ‘thể’ (ví dụ: Cao Xuân Hạo và một số người khác). Thực ra, vấn đề này không đơn giản như vậy. Có thể quan niệm rằng trong tiếng Việt có thời tuyệt đốithời tương đối, nên các phó từ nêu trên có thể được sử dụng để biểu thị ‘thời tuyệt đối’ hoặc ‘thời tương đối’. Vì vậy, khi sử dụng, cần phải xác định điểm quy chiếu để phân biệt rõ thời gian của các sự kiện hay quá trình. Ví dụ:

(i) Thời tuyệt đối:
+ Tôi học tiếng Việt.
+ Tôi đã học tiếng Việt sáu tháng.
+ Tôi sẽ học tiếng Việt một năm.

(ii) Thời tương đối:

* Hiện tại tương đối:
+ Tôi đang học tiếng Việt thì nó gọi.
+ Ngày mai, vào giờ này, tôi còn đang học tiếng Việt.
+ Hồi ấy, tôi đang học tiếng Việt ở Hà Nội.

* Quá khứ tương đối:
+ Bởi vì tôi đã bắt đầu đi học sớm hơn, cho nên khi anh Cán còn đang học đại học thì tôi đã đương làm ở Viện rồi.
+ Ngày mai, vào giờ này thì anh ấy đã đến Nội Bài rồi.
+ Trong nhà đã ngủ yên cả rồi.

* Tương lai tương đối:
+ Lúc ấy, nó nói với tôi: nếu có điều kiện nó sẽ trở về thăm quê hương.
+ Khi không còn ai trong phòng, nó mới nói sẽ không học tiếp nữa.

8. Các hư từ biểu thị ý nghĩa kết quả của hành động/hoạt động

– Để chỉ kết quả của hành động/hoạt động (hoàn thành hay chưa hoàn thành), tiếng Việt chủ yếu dùng các phó từ: xong, rồi, chưa.

+ Từ ‘xong’ và ‘rồi’ vừa biểu thị ý nghĩa ‘kết quả’ vừa biểu thị ý nghĩa ‘thời’, do đó chúng có thể được sử dụng một mình hoặc dùng cùng với các từ chỉ ‘thời’ hay được kết hợp với nhau thành cặp. Ví dụ:
1/ Giáo sư đã đến./ Giáo sư đến rồi./ Giáo sư đã đến rồi.
2/ Chiều nay tôi dịch xong./ Chiều nay tôi sẽ dịch xong./ Chiều nay tôi sẽ phải dịch xong rồi.
3/ Tôi từng ăn thử món này./ Tôi ăn thử món này rồi./ Tôi đã từng ăn thử món này rồi.
4/ Tôi chưa làm./ Tôi chưa làm xong./Tôi sắp làm xong. (Trong các ví dụ này, ý nghĩa các câu khác nhau).

+ Cũng có khi từ ‘xong’, ‘rồi’, ‘chưa’ chỉ biểu thị ý nghĩa kết quả (hoàn thành) mà không biểu thị ý nghĩ thời. Trong những trường hợp này, chúng thường biểu thị trạng thái của sự vật hoặc hiện tượng. Ví dụ:
1/ Công việc chưa làm xong./Công việc làm xong rồi.
2/ Cơm chưa chín./ Cơm chín rồi.
3/ Nó chưa ngủ./ Nó ngủ rồi.

– Ngoài ra, trong tiếng Việt, các phó từ: mất, được, ra, cũng được sử dụng để biểu thị kết quả của hành động/hoạt động. Các phó từ này cũng có thể được sử dụng kết hợp với phó từ ‘rồi’ đã nói ở trên. Ví dụ:
1/ Anh Lực quên mất em rồi.
2/ Tôi hiểu được câu này rồi.
3/ Em tìm ra câu trả lời rồi.

+ Từ ‘mất’, ngoài ý nghĩa ‘kết quả’ còn thể hiện sự đánh giá/thái độ đối với ‘kết quả’ đó, thường thì đó là sự đánh giá tiêu cực. Ví dụ, so sánh:
1/ Tôi quên anh ấy rồi./ Xuýt nữa tôi quên mất anh ấy.
2/ Mèo ăn đĩa cá rồi. 2/ Sao không đậy, để mèo ăn mất đĩa cá, hả?

+ Phó từ ‘ra’ và ‘được’ tuy có thể thay thế nhau nhưng ‘ra’ chủ yếu dùng để biểu thị kết quả của những hoạt động trí óc (nhận thức) nên thường dùng với những động từ biểu thị hoạt động tâm lí như: nghĩ, tìm (ví dụ: Tìm ra câu trả lời), hiểu, phát hiện…, còn ‘được’ dùng để biểu thị kết quả của các hoạt động nói chung kèm theo nghĩa ‘khả năng’ nên có thể sử dụng với tất cả các động từ bao hàm nghĩa „khả năng” Ví dụ:
1/ Tôi nghĩ ra một cách để đuổi khéo nó.
2/ Phải mất hai năm công an mới bắt được thủ phạm vụ giết người cướp của.

Ghi chú:

* Cần nhớ lại rằng, phó từ ‘rồi’ khi được dùng với một số động từ chỉ hoạt động tâm lí/quá trình sẽ thay đổi ý nghĩa và biểu thị nghĩa ‘bắt đầu’ chứ không phải là nghĩa ‘kết quả’. Ví dụ:

Từ nay tôi tin anh rồi.

* Ngoài các phó từ chỉ kết quả trên đây, tiếng Việt còn có từ ‘thấy’ cũng dùng để chỉ kết quả. Tuy nhiên, ‘thấy’ không phải là hư từ theo đúng nghĩa. Từ này ngoài ý nghĩa ‘kết quả’ còn bao hàm nét nghĩa ‘nhận biết bằng giác quan, vì vậy có thể coi đây là yếu tố cấu tạo từ mới. Ví dụ:
1/ Nói to lên chút nữa, tôi không nghe thấy gì cả.
2/ Theo cánh tay anh ấy chỉ tôi mới nhìn thấy chiếc thuyền.

____________________________________________________________

Posted in Ngôn ngữ học miêu tả, Ngữ pháp học, Ngữ pháp miêu tả tiếng Việt | Tagged: , , , , , , , , | Leave a Comment »

Phương tiện biểu thị nghĩa ngữ pháp (tiếp theo)

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tư 17, 2011

5. Từ chỉ phương tiện và cách thức

Để chỉ quan hệ giữa hành động/hoạt động và phương tiện/cách thức của các hành động/hoạt động, tiếng Việt cũng dùng giới từ.

5.1. Giới từ bằng

– Giới từ bằng trước hết được dùng để biểu thị phương tiện hay cách thức của hành động hoặc hoạt động. Ví dụ:
1/ Chúng tôi sẽ đi bằng đường thủy.
2/ Ở nước chúng tôi, ít người biết ăn bằng dao và dĩa.
3/ Nó nhìn đời bằng nửa con mắt.

– Giới từ bằng còn dùng để biểu thị chất liệu dùng để làm ra sản phẩm. Ví dụ:
1/ Đây là túi làm bằng da cá sấu.
2/ Ghế này làm bằng đá.

– Tuy nhiên, trong tiếng Việt, giới từ bằng không luôn luôn mang tính bắt buộc. Nó thường được dùng khi cần nhấn mạnh vào phương tiện của hành động hay hoạt động, hoặc khi sự vắng mặt của giới từ có thể gây nên sự hiểu nhầm. Ví dụ:
1/ Ở đây chỉ có chị An biết nói tiếng Pháp.
2/ Không có phiên dịch, chúng tôi nói với nhau bằng tiếng Anh.

Hoặc:
1/ Họ ngồi trên ghế đá.
2/ Đây là con ngựa bằng đá.

5.2. Các giới từ: với, cùng

– Các giới từ vớicùng là những giới từ dùng để biểu thị đối tượng cùng tham gia vào một hành động hay hoạt động nên có chức năng giống nhau. Do vậy, chúng có thể được dùng để thay thế cho nhau, hoặc kết hợp với nhau thành một cặp. Ví dụ, hãy so sánh:
Câu 1: Tôi sẽ đi với anh lên thành phố.
Câu 2: Tôi sẽ đi cùng anh lên thành phố.
Câu 3: Tôi sẽ đi cùng với anh lên thành phố.

– Các giới từ này còn có thể biểu thị quan hệ giữa sự vật hoặc hiện tượng và đặc điểm hay thuộc tính đi kèm của chúng. Trong những trường hợp này, với hoặc cùng với thường được sử dụng nhiều hơn cùng. Ví dụ:
Đến Nha Trang, họ thuê một căn phòng với đầy đủ tiện nghi để ở.
(Ít dùng hoặc không nên dùng cùng trong những trường hợp như thế này).

– Tuy nhiên, giữa hai giới từ này có sự khác biệt nhất định: với có thể dùng để chỉ cách thức hay điều kiện của hành động/hoạt động nhưng cùng không có khả năng này. So sánh:
Câu 1: Họ đang làm việc với quyết tâm cao để hoàn thành dự án. (+)
Câu 2: Họ đang làm việc cùng quyết tâm cao để hoàn thành dự án. (-)

6. Các từ biểu thị nghĩa địa điểm, hoàn cảnh

Để chỉ quan hệ giữa hành động/hoạt động và địa điểm, hoàn cảnh diễn ra của chúng, tiếng Việt dùng nhóm giới từ: ở, tại, trong, ngoài, trên, dưới, giữa.

– Hai giới từ tại có chức năng gần giống nhau (biểu thị nghĩa địa điểm nói chung), do đó có thể thay thế nhau trong hầu hết các trường hợp và có thể kết hợp với nhau thành giới từ ghép: ở tại. Ví dụ:
1/ Anh Phan làm việc nhà.
2/ Anh Phan làm việc tại nhà.
3/ Anh Phan làm việc ở tại nhà.

– Các giới từ trong, ngoài, trên, dưới, giữa biều thị nghĩa địa điểm/ hoàn cảnh kèm theo hướng quan sát. Do đó chúng còn có thể đi với các động từ để chỉ phương hướng. Ví dụ:
1/ Tàu hỏa đang chạy vào trong đường hầm.
2/ Mọi người không nên đi ra ngoài nhà khi trời bão.
3/ Tôi vừa thấy họ đi lên trên tầng hai.

Cần lưu ý:

+ Khi sử dụng các giới từ trong, ngoài, trên, dưới, cần phải căn cứ vào vị trí quan sát (vị trí tương đối của người nói/người nghe) hoặc thói quen tâm lí của người Việt. Ví dụ, so sánh:
1/ Con mèo đang ngủ ngoài sân./ Con mèo đang ngủ trong sân.
2/ Anh ấy đang bơi trên sông. / Anh ấy đang bơi dưới sông.
3/ Ngoài chợ có nhiều tin đồn rất lạ./ Trong chợ có có thể mua hàng rẻ hơn.

+ Tuy tại có chức năng giống nhau nhưng có thể kết hợp với các giới từ trong, ngoài, trên, dưới, giữa còn tại thường không có khả năng này. Cũng chính vì vậy, chỉ có thể có kết hợp ở tại mà không có kết hợp tại ở. Ví dụ:
Bình thường nói:
‘Anh Phan đang làm việc ở trong phòng.’
mà không nên nói: ‘Anh Phan làm việc tại trong phòng.’

hoặc có thể nói: ‘Đám cưới được tổ chức ở tại đình làng. ‘
Nhưng không thể nói: ‘Đám cưới được tổ chức tại ở đình làng.’

+ Giới từ còn có thể biểu thị quan hệ giữa hành động/ hoạt động và đối tượng của hành động/hoạt động trong khi tại không có chức năng này. Ví dụ:
Có thể nói: ‘Chúng tôi tin tưởngban lãnh đạo.’
nhưng không thể nói: ‘Chúng tôi tin tưởng tại ban lãnh đạo.’

_________________________________________________

Posted in Ngôn ngữ học miêu tả, Ngữ pháp học, Ngữ pháp miêu tả tiếng Việt, Từ loại | Tagged: , , , , , | Leave a Comment »

Phương tiện biểu thị nghĩa ngữ pháp

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 31, 2011

Lê ĐìnhTư

2. Phương tiện biểu thị nghĩa sở hữu/sở thuộc

Để biểu thị nghĩa sở hữu hoặc sở thuộc, tiếng Việt dùng giới từ của

– Giới từ của dùng để biểu thị quan hệ sở thuộc giữa danh từ và danh từ.

Trong sử dụng, cần lưu ý những trường hợp sau:

+ Khi mối quan hệ này có thể được nhận biết một cách chắc chắn thì có thể lược bỏ của. Ví dụ:
cánh đồng của xã An Phú = cánh đồng xã An Phú.

+ Khi biểu thị quan hệ bộ phận-toàn thể hoặc quan hệ thân thuộc, giới từ của thường không được sử dụng, thậm chí nên lược bỏ, vì nếu dùng thì gây cảm giác nặng nề. Ví dụ:
miệng núi lửa; cánh máy bay; chồng tôi; bố tôi; bác tôi; anh tôi

+ Khi danh từ có nguồn gốc là một động từ hoặc tính từ thì sự có mặt của giới từ của thường mang tính bắt buộc. Ví dụ:

sự đánh giá của các ngài; cơn ghen của nó; niềm hạnh phúc của chúng tôi.

– Giới từ của còn dùng để biểu thị ý nghĩa nguồn gốc, khi đi với động từ, ví dụ:

Tôi mượn của anh Long quyển sách này;
Anh ấy mới vay của ngân hàng số tiền này.

hoặc ý nghĩa bị động của động từ, ví dụ:

Đây là xe ô tô của Nhật sản xuất. (= Đây là xe ô tô do Nhật Bản sản xuất)
Tiểu thuyết này (là) của chị Hà cho tôi mượn.

3. Phương tiện chỉ đối tượng gián tiếp

– Tiếng Việt không có phương tiện riêng để biểu thị quan hệ giữa động từ và đối tượng trực tiếp mà chỉ có phương tiện để biểu thị quan hệ giữa động từ và đối tượng gián tiếp của nó.

– Để chỉ đối tượng trực tiếp, tiếng Việt dùng trật tự từ: [V + O].

– Để chỉ đối tượng gián tiếp, tiếng Việt dùng các giới từ ‘cho’ và ‘về’/’đến’/’tới‘.

Mô hình chung là:[V + O1 + (Gt) + O2]

– Mô hình này chủ yếu dùng với giới từ cho . Vị trí của ‘cho’ thường ở sau từ chỉ đối tượng trực tiếp. Ví dụ:

1/ Sắp về nước, tôi phải mua quà cho gia đình.
2/ Cô ấy dạy nhạc cho con gái tôi.

Tuy nhiên, vị trí này có thể thay đổi, khi ấy ta có mô hình: [V+ (cho) + O2 + O1].
Ví dụ, so sánh:

1/ Họ giao tiền cho chúng tôi.
2/ Họ giao cho chúng tôi tiền.

– Với các giới từ ‘về’/’đến’/’tới’, mô hình có thể không đầy đủ. Ví dụ:

1/ Ông ấy đang viết sách về văn hóa Ba Lan. (mô hình đầy đủ)
2/ Ông ấy đang viết về văn hóa Ba Lan. (mô hình không đầy đủ)
3/ Chúng tôi đang nói tới những thay đổi gần đây. (mô hình không đầy đủ)

Mô hình không đầy đủ thường chỉ áp dụng với một số động từ, ví dụ: nói, nói chuyện, bàn, thảo luận, viết, nhắc, nhớ,

Cần lưu ý:

Đối tượng gián tiếp cũng có thể là động từ hoặc tính từ. Trong những trường hợp này, ta không dùng ‘cho’. Ví dụ:

1/ Họ bắt chúng tôi đi theo.
2/ Cô ấy chê anh nghèo.

(còn nữa)
______________________________________________________

Posted in Ngôn ngữ học miêu tả, Ngữ pháp học, Ngữ pháp miêu tả tiếng Việt | Tagged: , , , , , , | Leave a Comment »

Phụ từ tiếng Việt

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 25, 2011

Lê Đình Tư

1. Định từ

– Định từ là loại phụ từ chuyên đi kèm với danh từ để bổ sung ý nghĩa số lượng cho danh từ. Đó là các từ: những, các, mọi, mỗi, từng, một.

– Các định từ những, các được kết hợp với danh từ để tạo ra số nhiều. Sự khác biệt giữa các định từ này thể hiện ở chỗ: những dùng để tạo ra số nhiều hạn chế, còn các dùng để tạo ra số nhiều nói chung, ví dụ:
Tôi nhớ những đêm Hà Nội thơm nồng mùi hoa sữa.
Các nơi trên thế giới đang chuẩn bị đón năm mới.

Vì lý do đó, từ ‘những’ có thể kết hợp với các đại từ nghi vấn, còn từ ‘các’ thì không có khả năng đó. Ví dụ: Có thể nói những gì, những ai, nhưng không thể nói các gì, các ai.

– Định từ mọi cũng đi với danh từ để tạo ra số nhiều nhưng nó còn bao hàm nghĩa “tất cả”. Tuy nhiên, khác với đại từ tất cả, định từ ‘mọi’ kết hợp với danh từ ở cùng một vị trí giống như ‘những’ và ‘các’, còn vị trí của ‘tất cả’ là ở trước các định từ đó. Ví dụ: Có thể nói “Tất cả các người” hoặc “Tất cả những ngày”, nhưng không thể nói “Mọi các người” hay “Mọi những ngày”. Hơn nữa, từ ‘mọ’i luôn luôn chỉ số nhiều còn ‘tất cả’ có thể chỉ số ít. So sánh:
tất cả ngày/mọi ngày;
tất cả gia đình/mọi gia đình

Ngoài ra, từ ‘mọi’ còn có thể dùng để chỉ thời gian đã qua, ví dụ:
Tháng bảy năm nay trời không mưa nhiều như mọi năm
.
– Các từ mỗi, một, từng dùng để biểu thị số ít. ‘mỗi’ và ‘một’ có thể thay thế nhau trong một số trường hợp, do đó có thể đi với nhau thành cặp. Ví dụ, câu:
“Bà cụ có biết đâu rằng các cô gái non bây giờ mỗi năm mỗi mốt”
có thể viết thành: “Bà cụ có biết đâu rằng các cô gái non bây giờ mỗi năm một mốt”.

Sự khác nhau cơ bản giữa chúng là: ‘một’ chỉ biểu thị số ít tương đương với số từ “một” trong khi ‘mỗi’ còn dùng để biểu thị tính đơn lẻ hay cá thể của một sự vật trong tập hợp. So sánh:
Mỗi người phải chạy hai vòng quanh sân vận động.
Một người phải chạy hai vòng quanh sân vận động còn những người khác chỉ chạy một vòng.
– Từ từng có nét nghĩa giống với mỗi và một vì nó cũng dùng để biểu thị số ít nhưng nó còn bao hàm thêm nét nghĩa ‘diễn ra lần lượt’. Ví dụ:
Ông đến từng bàn, bắt tay từng người.

Cũng giống như ‘mỗi’, định từ ‘từng’ có thể đi với ‘một’ thành cặp từ ‘từng … một’ nhưng không bao giờ có thể thay thế nó bằng ‘một’. Ví dụ:
Từng ngày, mẹ thầm hỏi con đã đi những đâu.
Hãy kiểm tra từng nhà một!

2. Phó từ

– Phó từ là những phụ từ đi kèm với động từ và tính từ để thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp, cách thức, mức độ hay kết quả của hành động, hoạt động.

– Phó từ chỉ thời gian là những phụ từ dùng để thể hiện ý nghĩa thời: đã, đang, sẽ, vừa, mới, sắp, từng. Điểm đặc biệt của các phó từ nhóm này là chúng không chỉ được dùng để thể hiện thời tuyệt đối mà còn có thể dùng để thể hiện thời tương đối. Vì vậy, khi sử dụng, cần phải có điểm quy chiếu để phân biệt rõ thời gian của các sự kiện hay đặc trưng tính chất. Ví dụ: Trong câu:
Ngày mai anh đã lên đường rồi à? Tôi nghĩ là 5 ngày nữa chứ!
thì đã biểu thị thời quá khứ tương đối (ngày mai) so với thời điểm quy chiếu trong tương lai: ‘5 ngày nữa’.

– Phó từ phủ định: không, chưa, chẳng(chả). Các phó từ không và chẳng thường đi với các động từ và tính từ để biểu thị ý nghĩa phủ định, nhưng chúng cũng có thể đi với các danh từ, đại từ để phủ định sự tồn tại của sự vật hay hiện tượng. Ví dụ:
– Nàng nhớ con nằm trong tổ lạnh
Không chăn, không nệm ấm, không màn.” (Tố Hữu)
Không gì có thể so sánh với vẻ đẹp của Vịnh Hạ Long.
Không ai ở đây không biết nó.

– Phó từ tạo câu mệnh lệnh: hãy, đi, đừng, chớ. Trong khẩu ngữ, hãy thường được thay thế bằng hẵng. Ví dụ:
Chúng ta hẵng (hãy) nghỉ một chút đã!
Các phó từ đừngchớ dùng để bày tỏ lời yêu cầu hay khuyên bảo người nghe không thực hiện hoặc ngừng thực hiện một hành động nào đó. Ví dụ:
– Chị đừng đi chuyến tàu này!
Chớ đi ngày bảy chớ về ngày ba!
Khi cần làm rõ yêu cầu người nghe ngừng tiến hành một hành động, có thể kết hợp chúng với nữa. Ví dụ:
Đừng chơi với nó nữa!
Nói chung, đừngchớ có nghĩa giống nhau, tuy nhiên chớ thường có ý nghĩa răn đe nhiều hơn.

– Phó từ chỉ sự đồng nhất hay lặp đi lặp lại: cũng, đều, vẫn, còn, mải, lại, cứ, mãi, nữa.
+ cũng, đều, vẫn, còn, mải, lại, cứ là những phó từ đứng trước vị từ.
+ mãi, nữa là những phó từ đứng sau vị từ.
+ Riêng phó từ lại có thể đứng trước hoặc sau động từ.
+ Từ cũng có thể được thay thế bằng từ vẫn trong trường hợp nó được dùng để biểu thị sự mâu thuẫn hay trái ngược của sự kiện. Khi ấy chúng thường được kết hợp với các từ tình thái như: phải, bị, hoặc phó từ phủ định không. Ví dụ:
– Ốm gần chết cũng phải đi/ Ốm gần chết vẫn phải đi.
– Rẻ thế chứ rẻ nữa cũng không mua.
+ Từ cứ ngoài việc biểu thị sự không thay đổi của hành động, hoạt động hay trạng thái còn được dùng để biểu thị ý nghĩa cầu khiến. Ví dụ:
– Anh cứ nói với nó là tôi không cho vay!
+ Từ lại có thể được kết hợp với nữa khi đứng trước động từ để biểu thị sự tiếp tục của hành động, nhưng khi đi sau động từ để biểu thị sự lặp lại của hành động thì không thể kết hợp trực tiếp với nữa. Ví dụ: Có thể nói:
Họ lại uống nữa.
nhưng không thể nói: “Chị ấy đọc lại cuốn sách ấy nữa.” mà phải nói: “Chị ấy đọc lại cuốn sách ấy một lần nữa.”.
– Phó từ chỉ mức độ: rất, quá, lắm, khá, khí, hơi.
+ Các từ rất, khá, khí, hơi đều đứng trước các tính từ và động từ, còn quá, lắm thì đi sau.
+ Khi quá đứng trước tính từ hoặc động từ thì nó dùng để chỉ mức độ nhưng khi đi sau tính từ hoặc động từ, nó còn có nghĩa như một thán từ. Ví dụ:
Cái áo này quá chật.
Cảnh ở đây đẹp quá!
+ Trong một số trường hợp, các từ rất, quá, lắm có thể đi với danh từ, ví dụ:
rất sinh viên
quá lời
quá chén
lắm tiền
+ Hai phó từ khá khí thường có nghĩa giống nhau, nhưng ‘khí’ có phạm vi sử dụng hẹp hơn ‘khá’ và có thể có nghĩa tiêu cực (chê bai, mỉa mai), vì thế thường chỉ đi với những từ biểu thị ý nghĩa tiêu cực. Ví dụ: Có thể nói:
Thức ăn ở đây khá rẻ.
nhưng không nói: Thức ăn ở đây khí rẻ.
hoặc có thể nói:
Chị ấy khá đảm đang.
nhưng không thể nói: Chị ấy khí đảm đang.

– Phó từ chỉ kết quả: mất, được, ra.
Các phó từ này đều đứng sau vị từ để chỉ kết quả của hoạt động hay hành động. Ví dụ:
Xuýt nữa tôi quên mất.
Nó không đậy, nên chuột ăn mất hai cái bánh.
Tôi nghĩ ra một cách để đuổi khéo nó.
Phải mất hai năm trời công an mới tìm được thủ phạm vụ giết người cướp của.
– Phó từ chỉ hướng diễn biến: ra, lên, đi, lại.
Tất cả các phó từ này cũng đều đứng sau vị từ để chỉ hướng diễn biến của quá trình.
+ Các phó từ ra, lên dùng để chỉ hướng diễn biến tích cực hoặc được coi là tích cực. Ví dụ:
– Dạo này trông anh có vẻ béo lên một chút.
– Đi tắm biển về, ai cũng thấy khỏe ra.
+ Các phó từ đi, lại dùng để chỉ hướng diễn biến tíêu cực hoặc được coi là tiêu cực. Ví dụ:
– Khí hậu trái đất càng ngày càng xấu đi.
– Bị ốm hơn một tháng, người nó quắt lại.
– Phó từ biểu thị sự đánh giá bất lợi: cho, phải.
Các phó từ này đều đứng sau vị từ để biểu thị sự đánh giá tiêu cực đối với hàng động hay hoạt động. Ví dụ:
– Anh không nên làm thế, người ta cười cho.
– Ai cũng thương chị Lan lấy phải người chồng nghiện hút.

– Phó từ chỉ tần số: thường, hay, năng, thường xuyên, luôn, luôn luôn.
+ Các phó từ thường, hay, năng chỉ đứng trước vị từ. Riêng các phó từ thường và hay còn có thể kết hợp với nhau. Ví dụ:
Anh năng đi lại, mẹ thày em thương.
Về mùa này, Sa Pa hay có sương mù.
Những người hiền lành thường hay yếu đuối.
+ Phó từ luôn thường đứng trước vị từ để biểu thị tần số của hành động hay hoạt động. Khi đi sau vị từ, nó còn có thể biểu thị cách thức của hành động hay hoạt động. Ví dụ:
Ở châu Âu, tôi luôn cảm thấy khô miệng.
Tôi gặp nó luôn.
Không thấy ai, nó lấy luôn hai quả cam cho vào túi.
+ Các phó từ thường xuyênluôn luôn có thể đứng trước hoặc sau vị từ mà ý nghĩa không thay đổi. Ví dụ:
Họ thường xuyên vắng nhà./ Họ vắng nhà thường xuyên.
Người già luôn luôn mất ngủ./ Người già mất ngủ luôn luôn.
___________________________________________________________________
Câu hỏi và bài tập

1/ Hãy phân biệt định từ và phó từ. Từ từng có ý nghĩa gì khi đi với danh từ và động từ?
2/ Hãy phân biệt ý nghĩa của các cặp từ mỗi/một, mỗi/từng, tất cả/mọi và cho ví dụ minh họa.
3/ Các phó từ chỉ thời gian trong tiếng Việt có đặc điểm gì? Hãy tìm ví dụ để chứng minh rằng các từ đã, đang, sẽ, sắp vừa chỉ thời tuyệt đối vừa chỉ thời tương đối.
4/ Hãy phân biệt ý nghĩa của hai phó từ đừngchớ và cho ví dụ minh họa.
5/ Hãy chỉ ra những câu sai trong các câu dưới đây:
– Tình hình chuyển biến mau lẹ, từng ngày mỗi khác.
– Hôm qua, vào giờ này, anh Hải còn đang ngồi trên máy bay.
– Người em cứ đi mải đi mải cho đến khi gặp một con sông lớn.
– Chúng tôi nài nỉ quá, chị Vân đành hát lại nữa bài hát.
– Chị An là một người biết điều, không bao giờ nói quá lời.
– Cái xe này khí tốt mà rẻ, anh nên mua đi.
– Chị ấy thường xuyên đi chợ thế mà cũng mua phải của ôi.
– Ra viện, anh ấy hết sức tẩm bổ nhưng còn không béo lại chút nào.
6/ Hãy đặt câu với các phó từ sau đây:
– mất
– ra (chỉ hướng diễn biến)
– cho
– khí
– năng
– luôn
– phải
– ra (chỉ kết quả)

_____________________________________

Posted in Ngôn ngữ học miêu tả, Ngữ pháp học, Ngữ pháp miêu tả tiếng Việt | Tagged: , , , , , , , , , | Leave a Comment »

Đại từ chỉ định

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 3, 2011

Lê Đình Tư

1. Đại từ chỉ vị trí

Đó là những từ dùng để chỉ quan hệ không gian giữa người nói và đối tượng được nói tới trong phát ngôn. Đó là các đại từ: này, kia, kìa, ấy, đấy, đó, nọ, đây.

– Để chỉ quan hệ không gian, cần phải có vật quy chiếu. Vật quy chiếu có thể là người nói, người nghe hoặc một đối tượng được người nói, người nghe đề cập tới. Khi nói: “Tôi không thích cái áo sơ mi này.” thì đại từ ‘này’ cho ta biết cái áo sơ mi đang ở gần người nói, nhưng khi nói: “Tôi thích cái áo ấy hơn cái áo này” thì ‘ấy’ có thể biểu thị sự vật ở gần người nghe hơn hoặc một sự vật ở vị trí khác với sự vật đang được nói tới. Như vậy, các đại từ chỉ định dùng để định vị các sự vật trong quan hệ với người nói và người nghe hoặc trong quan hệ giữa các sự vật với nhau.

– Tuy nhiên, vị trí của các sự vật có thể được xác định rõ hoặc không xác định. Các đại từ đây, này, kia, đấy, đó, ấy vừa được dùng để chỉ vị trí xác định vừa để chỉ vị trí không xác định. Ví dụ, so sánh:

– Tôi đã đi trên con đường này./ Tôi đi đằng này một chút.
– Chị lấy cái áo này hay cái kia?/ Chị ấy hỏi chuyện hết người này đến người kia.
– Thằng đấy là con trai bác Ba./ Chị Hằng đi đâu nó theo đấy.
– Bên ấy có người ngày mai ra trận./ Tớ có cái ấy, cậu có muốn xem không?

Riêng đại từ nọ chỉ được dùng để chỉ vị trí không xác định. Ví dụ:

– Ở một trường nọ có sinh viên không làm được bài thi đã toan tự tử.
– Ở nhà, chị làm hết việc này việc nọ.

2. Đại từ chỉ thời gian

Đây là những từ dùng để chỉ quan hệ thời gian giữa các sự kiện được nói tới. Đó là các đại từ: này, nay, kia, kìa, ấy, đấy, đó, nọ, đây, bây giờ, bấy giờ, giờ.
Có thể thấy rằng nhiều đại từ chỉ vị trí đồng thời cũng là đại từ chỉ thời gian.

– Cũng giống như trường hợp chỉ vị trí, để chỉ quan hệ thời gian, ta cần phải có thời điểm quy chiếu. Thời điểm quy chiếu là thời điểm nói/ suy nghĩ/ hành động, hoặc một thời điểm nào đó đã hoặc đang được đề cập đến trong phát ngôn.

+ Từ đây, này, bây giờ, giờ được dùng để chỉ thời điểm nói/ suy nghĩ/ hành động (thường được gọi là ‘hiện tại’), ví dụ:

– Trước đây, đường phố Hà Nội không đông người như bây giờ.
– Lúc này anh ấy đang bối rối.

Từ đấy, ấy, đó, bấy giờ dùng để chỉ thời điểm quy chiếu của một sự kiện được nhắc tới trong quá khứ hoặc tương lai, ví dụ:

– Trước đấy ít lâu, tôi có ghé thăm nhà chị ấy.
– Khi ấy, tôi sẽ kiện anh.
– Thời gian đó, chị Hải chưa quen anh Tấn.
– Lúc bấy giờ anh đừng trách tôi nhé!

+ Từ kia, kìa dùng để chỉ một thời điểm nào đó đã xác định cụ thể hoặc không xác định nhưng có thể hình dung được một cách cụ thể trong tương lai, ví dụ:
– Họ mới rời Hà Nội hôm kia.
– Tôi hứa với anh, ngày kia hoặc ngày kìa mọi việc sẽ hoàn tất.
– Một ngày kia chúng tôi sẽ trở lại.

+ Từ nọ dùng để chỉ thời điểm không xác định trong quá khứ. Ví dụ:

Tôi mới cho nó vay tiền hôm nọ mà!

3. Đại từ chỉ trạng thái

– Đại từ chỉ trạng thái là những từ dùng để thay thế cho một trạng thái/ sự kiện đã được nêu ra ở một đơn vị ngôn ngữ khác (từ, một vế câu, một câu hoặc một số câu) hoặc đã được người nói và/hoặc người nghe trải nghiệm. Đó là các từ: thếvậy.

– Nói chung, hai đại từ này có nghĩa giống nhau và cách sử dụng giống nhau. Tuy nhiên, ‘thế’ có thể dùng với các đại từ chỉ định này, kia, ấy, nọ, ví dụ:

– Anh làm thế này thì hỏng mất.
– Trời mưa thế kia mà nó cứ nhất định ra về.
– Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.
– Người nói thế nọ, người nói thế kia, tôi chẳng biết nghe ai.

Trong những trường hợp này, ta không thể thay đại từ ‘thế’ bằng đại từ ‘vậy’. Như vậy, đại từ ‘vậy’ không được dùng với các đại từ chỉ định này, kia, ấy, nọ.

________________________________________________________

Posted in Ngữ pháp học, Ngữ pháp miêu tả tiếng Việt | Tagged: , , , , , , , | Leave a Comment »

Đại từ chỉ ngôi tiếng Việt

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 24, 2011

Lê Đình Tư

Đại từ chỉ ngôi (hay đại từ nhân xưng) trong tiếng Việt khá phức tạp, do chúng không chỉ được dùng để chỉ ngôi mà còn được dùng để biểu thị những thái độ, tình cảm khác nhau của người nói. Đại từ chỉ ngôi tiếng Việt thường có tính bắt buộc; khi không dùng chúng, quan hệ giữa các vai giao tiếp có thể thay đổi theo hướng xấu hoặc theo hướng suồng sã, thân mật. Ví dụ: Câu “Chị ngồi xuống!” là câu nói lịch sự hơn câu “Ngồi xuống!”. Tùy theo hoàn cảnh, câu thứ hai có thể được tiếp nhận một cách tiêu cực (thiếu lễ độ) hoặc tích cực (thân mật).
Đại từ chỉ ngôi tiếng Việt được chia làm hai loại:

1. Đại từ chỉ ngôi chuyên dùng: Là những đại từ chỉ được sử dụng để chỉ ngôi, không dùng trong chức năng của từ loại khác. Hệ thống đại từ chỉ ngôi chuyên dùng có thể trình bày như sau:

Ngôi I Số ít: tôi/tao/tớ/ta
Ngôi I Số nhiều: chúng tôi/chúng tao/chúng tớ

Ngôi II Số ít: mày/mi/ngươi
Ngôi II Số nhiều: chúng mày/ bay/chúng bay/chúng mi

Ngôi gộp (ngôi I + II): Chúng ta/ta

Ngôi III Số ít: nó/hắn/y/va
Ngôi III Số nhiều: chúng nó/chúng hắn/họ/chúng

Đại từ chỉ ngôi chuyên dùng trong tiếng Việt không có ý nghĩa trung hòa, nghĩa là không chỉ dùng để chỉ ngôi mà còn dùng để bày tỏ quan hệ (xấu hay tốt, chính thức hay không chính thức, thân mật hay xa lạ) của các vai giao tiếp, do đó khi sử dụng cần phải cân nhắc để lựa chọn cho thích hợp. Ví dụ: Bạn bè với nhau, thường dùng tao, tớ để chỉ ngôi I số ít, chứ ít khi dùng tôi.

2. Đại từ chỉ ngôi lâm thời: Là những từ thuộc các nhóm từ loại khác nhưng được sử dụng như đại từ chỉ ngôi. Đó có thể là:
* Các danh từ chỉ quan hệ thân thuộc: cụ, ông, bà, bố, mẹ, chú, bác, thím, cô, cậu, mợ, dì, anh, chị, em, con, cháu, chắt.
Nguyên tắc chung để sử dụng các danh-đại từ này là căn cứ vào vai giao tiếp (vị thế của các vai giao tiếp): Người đóng vai giao tiếp có quan hệ với nhau như thế nào thì sử dụng danh từ chỉ ngôi như thế. Ví dụ: Nếu vai giao tiếp là ôngcháu (hiểu theo nghĩa chính xác), hoặc có thể là ôngcháu xét về mặt tuổi tác (hiểu theo nghĩa mở rộng), thì ta sử dụng ‘ông’ và ‘cháu’ làm đại từ thay cho ‘tôi’, ‘mày’ ở ngôi thứ nhất và thứ hai. Như vậy, các danh-đại từ chỉ ngôi có thể được sử dụng để xưng hô trong gia đình, gia tộc nhưng cũng có thể sử dụng để xưng hô trong xã hội. Trong giao tiếp xã hội, tùy theo vị thế xã hội và mức độ thân mật giữa các vai giao tiếp mà lựa chọn những từ thich hợp. Chẳng hạn, một cô gái có thể xưng hô với một người ở tuổi bố mình là ‘ông-cháu’ để biểu thị sự kính trọng hoặc khiêm nhường; bạn bè thân với nhau có thể dùng cặp đại từ ‘bác-tôi’ hay ‘ông-tôi’ để thể hiện sự thân mật…
* Danh từ mình: Đây vốn là từ dùng để chỉ cơ thể người hoặc động vật nhưng thường được dùng làm đại từ chỉ ngôi trong trường hợp người nói muốn thể hiện mối quan hệ thân mật, hữu nghị với người nghe. Đại từ mình có thể dùng để chỉ cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai (số ít hoặc số nhiều). Khi sử dụng ở ngôi thứ nhất số nhiều, ta có thể thêm chúng vào trước thành chúng mình. Ví dụ:
1) Mình đi ăn đi.
2) Cậu quên mình rồi à?
3) Mình đi đâu đấy mình?
4) Chúng mình cứ vào xem thế nào rồi quyết định sau!
* Một số danh từ dùng để xưng hô một cách chính thức, như bạn, đồng chí, ngài, vị, và những danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp, học hàm, học vị, như giám đốc, thủ trưởng, bộ trưởng, thủ tướng, tổng thống, thày giáo, cô giáo, bác sĩ, giáo sư, tiến sĩ, cũng được dùng làm đại từ chỉ ngôi (ngôi II).
* Trong khẩu ngữ, có thể kết hợp một danh từ chỉ quan hệ thân thuộc hàng trên (ví dụ: ông, bà, bố, mẹ, chú, cô, bác…) với một danh từ chỉ quan hệ thân thuộc hàng dưới (ví dụ: cháu, chị, anh, em) để tạo ra đại từ nhân xưng ngôi II, ví dụ:
1) Ông cháu đi đâu đấy?
2) Xin chào bà chị!
3) Chú em hôm nay diện quá nhỉ!
4) Ông anh đòi cao thế thì em biết trả thế nào!
5) Sao cô em nóng tính thế?

Ngoài ra, cũng có thể kết hợp các từ chỉ quan hệ thân thuộc với các đại từ mày, nómình để tạo đại từ chỉ ngôi II. Ví dụ:
1) Chú mày định chuồn à?
2) Bố nó hôm nay bị ốm à?
3) Cô mình có đi với bọn anh không?
4) Mẹ nó vào ăn cơm.

* Đại từ chỉ ngôi III số ít có thể được tạo ra bằng cách kết hợp từ ‘ta’ hoặc ‘ấy’ với các từ chỉ quan hệ thân thuộc. Ví dụ: ông ta/ông ấy, bà ta/bà ấy, chị ta/chị ấy. Đại từ hắn cũng có thể kết hợp với ta để tạo thêm đại từ hắn ta chỉ ngôi III. Nói chung, từ ta thường cho ý nghĩa tiêu cực hơn, trong khi từ ấy thường cho ý nghĩa trung hòa hơn. So sánh:
1) Anh ta chẳng thích ai ở cơ quan mình.
2) Anh ấy chẳng thích ai ở cơ quan mình.

Cần nhớ rằng, từ ta chỉ có thể kết hợp với những từ chỉ người lớn tuổi hơn (anh, chị, chú, cô, ông, bà…), chứ không thể kết hợp với những từ chỉ người ít tuổi hơn (em, cháu, con…), ví dụ: Không thể nói ‘em ta’ hay ‘cháu ta’ với ý nghĩa là ‘nó’ mà chỉ dùng với ý nghĩa: ‘em của chúng ta’ hay ‘cháu của chúng ta’.

* Ngoài ra, từ ‘ta’ và ‘ấy’ còn có thể được kết hợp với một số danh từ chỉ người theo độ tuổi và giới tính (lão, mụ) để chỉ ngôi III. Thường thì dạng thức này mang thêm ý nghĩa tiêu cực hoặc thân mật, tuỳ theo ngữ cảnh. Ví dụ:
1) Lão ta về vườn rồi.
2) Mụ ấy có tới năm cái nhà cho thuê.

Cuối cùng, trong tiếng Việt còn có một số đại từ nhân xưng đặc biệt dùng để thể hiện những tình cảm, thái độ đặc biệt kính trọng hoặc suồng sã: Người; ông cụ/bà cụ (= mẹ/bố, ví dụ: bà cụ tôi = mẹ tôi).

Câu hỏi và bài tập

1/ Đại từ chỉ ngôi chuyên dùng là gì? Đại từ chỉ ngôi chuyên dùng tiếng Việt có gì đặc biệt? Hãy cho một vài ví dụ với các đại từ chỉ ngôi chuyên dùng nhằm làm rõ sự khác biệt về quan hệ khi thay đổi đại từ chỉ ngôi.
2/ Đại từ chỉ ngôi lâm thời là gì? Những từ nào có thể được sử dụng làm đại từ chỉ ngôi lâm thời?
3/ Hãy mô tả các đại từ chỉ ngôi II số ít và số nhiều và cho ví dụ minh họa.
4/ Hãy mô tả các đại từ chỉ ngôi III số ít và số nhiều và cho ví dụ minh họa.
5/ Nêu sự khác biệt giữa các đại từ chỉ ngôi trong các ví dụ sau:
Anh đi đâu đấy?/ Ông anh đi đâu đấy?
– Chị cho em hỏi, xe này có đi Mai Động không?/ Bà chị cho em hỏi, xe này có đi Mai Động không?
– Bố nó ăn cơm đi!/ Bố nó đi ăn cơm.
– Bà ấy luôn luôn làm việc thiện./ Bà ta luôn luôn làm việc thiện!
– Hôm nay ông ấy không tiếp ai cả./ Hôm nay lão ta không tiếp ai cả
.

_______________________________________

Posted in Ngôn ngữ học miêu tả, Ngữ pháp học, Ngữ pháp miêu tả tiếng Việt | Tagged: , , , , , , , | 7 Comments »