TRANG CHUYÊN NGÔN NGỮ HỌC

CHÚC MỪNG NĂM MỚI!

ĐỪNG TÙY TIỆN ĐỔI MỚI TIẾNG VIỆT!

Posted by tuldvnhloc on Tháng Ba 30, 2010

Lê Đình Tư
(Bài đã đăng trong Tạp chí Tri thức trẻ)

Việc bổ sung từ ngữ cho tiếng Việt bằng cách vay mượn từ ngữ tiếng nước ngoài đương nhiên là một việc bình thường như đối với mọi ngôn ngữ khác, khi sự vay mượn đó là cần thiết, nghĩa là khi trong tiếng Việt chưa có các từ ngữ để biểu thị những khái niệm mới. Chính vì vậy, quá trình tiếp xúc giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ khác thường để lại những dấu ấn trong hệ thống từ vựng tiếng Việt. Đó là sự hiện diện của lớp từ vựng vay mượn hay còn gọi là từ vựng ngoại lai. Quá trình vay mượn từ ngữ của các thứ tiếng khác trong tiếng Việt đã diễn ra ngay từ thời kì xa xưa, trong giai đoạn nó đang hình thành, rồi về sau nó tiếp tục được bổ sung thêm vốn từ ngữ vay mượn của tiếng Hán và các thứ tiếng châu Âu hoặc châu Á khác. Đó là do vị trí địa-chính trị đặc biệt của Việt Nam, một trong số ít những quốc gia trên thế giới đã trở thành nơi hội tụ, gặp gỡ của nhiều tinh thần văn hóa-chính trị khác nhau, trong đó sự gặp gỡ của tiếng Việt với các ngôn ngữ thuộc những loại hình khác nhau là một trong những yếu tố gây tác động mạnh mẽ nhất đến đời sống xã hội của cộng đồng người Việt. Trong hệ thống tiếng Việt, chúng ta có thể quan sát thấy những ảnh hưởng của một loạt ngôn ngữ như: tiếng Trung (tiếng Hán), tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Hàn, tiếng Khơme, tiếng Nhật, tiếng Thái… Dấu tích cụ thể của những ảnh hưởng đó là một tỉ lệ lớn các từ ngoại lai mượn của các ngôn ngữ thuộc những loại hình khác nhau trong tiếng Việt. Nhìn bề ngoài và nếu chỉ xét riêng về tỉ lệ các từ ngoại lai, người ta có thể coi tiếng Việt bản địa chỉ là dấu tích còn lại của một thứ tiếng Việt xa xưa, bởi vì tổng cộng có tới khoảng 60-80% đơn vị từ vựng trong thứ tiếng này là từ vay mượn của các ngôn ngữ khác. Tuy nhiên, tình hình thực tế không cho phép chúng ta khẳng định điều đó, vì đa số các từ ngoại lai trong tiếng Việt không còn mang những nét đặc trưng của các ngôn ngữ gốc mà chủ yếu mang những nét đặc trưng (ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp) của tiếng Việt. Đó là do chúng đã được Việt hóa hóa cao độ để hoàn toàn phù hợp với hệ thống của tiếng Việt, khiến cho người Việt trong nhiều trường hợp không nhận ra tính chất ngoại lai của chúng. Ngày nay, có lẽ ít người Việt nào lại nghĩ là từ (cái) đầu, (căn) buồng là từ vay mượn của tiếng Hán hay (nhà) ga, (cái) phanh là từ mượn của tiếng Pháp.

Việt hóa các yếu tố ngoại lai diễn ra trên tất cả các phương diện: ngữ âm, từ vị và ngữ pháp. Về mặt ngữ âm chẳng hạn, sự Việt hóa đã tạo cho các yếu tố ngoại lai diện mạo của những đơn vị từ vựng tiếng Việt, khiến cho sự tồn tại của chúng trong tiếng Việt không phá vỡ tính hệ thống của nó, nghĩa là làm cho người Việt bình thường khi nghe từ ngoại lai không cảm thấy “chướng tai” và tự mình có thể nói hay đọc được các từ ngữ đó mà không cảm thấy “ngượng giọng”. Một cụm từ tiếng Anh không được Việt hóa như live show sẽ phá vỡ hệ thống ngữ âm của tiếng Việt và gây khó khăn cho đại đa số người Việt trong khi nghe cũng như khi nói.

Trên phương diện ngữ pháp, việc vay mượn rất ít khi xảy ra. Sỡ dĩ như vậy là vì ngữ pháp chính là cái phần quan trọng nhất quyết định ngôn ngữ này hay ngôn ngữ kia là một ngôn ngữ độc lập hay chỉ là một biến thể địa phương của một ngôn ngữ nào đó. Chẳng hạn, nếu xét về phương diện phát âm và từ vựng thì giữa các phương ngữ Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ có sự khác biệt khá lớn, nhưng do không có sự khác biệt đáng kể nào về mặt ngữ pháp giữa các phương ngữ đó nên người Việt sống ở các vùng miền khác nhau trên đất nước Việt Nam vẫn hiểu được nhau. Giả dụ, với sự khác biệt về ngữ âm và từ vựng của mình, nếu tiếng Trung Bộ có cấu trúc ngữ pháp khác với tiếng Việt phổ thông mà giống với cấu trúc của tiếng Anh thì tiếng nói đó chẳng người Việt nào ở những vùng khác hiểu được. Ví dụ: Nếu người Trung Bộ nói: “Rứa chi mần bọ?” thì người vùng khác sẽ nghĩ có lẽ đây là một thứ tiếng nước ngoài. Chính nhờ cái hệ thống ngữ pháp chung cho tất cả các tiếng địa phương mà người Việt ở đâu cũng hiểu được nhau, và do đó, tiếng nói của các cư dân địa phương khác nhau chỉ được coi là phương ngữ của tiếng Việt chứ không phải là những ngôn ngữ độc lập. Như vậy, việc đưa các cấu trúc ngữ pháp của một ngôn ngữ nào đó vào tiếng Việt để “đổi mới” tiếng Việt sẽ có hậu quả tai hại hơn nhiều so với việc vay mượn từ ngữ, bởi vì điều đó có thể dẫn đến nguy cơ biến tiếng Việt thành một phương ngữ của một ngôn ngữ ngữ khác, hoặc chí ít cũng làm cho người Việt không hiểu được nhau hoặc hiểu sai nhau. Với hơn 60% từ ngữ vay mượn của tiếng Hán (tiếng Trung), nếu tiếng Việt “nhập khẩu” thêm các cấu trúc ngữ pháp (cấu trúc ngược) của tiếng Hán thì chắc chắn ngày nay tiếng Việt sẽ được coi là một phương ngữ của tiếng Hán. Cho nên, các thế cha ông người Việt xưa kia thực sự là những nhà thông thái, khi sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc vẫn bảo vệ được tiếng Việt khỏi sự diệt vong.

Đương nhiên, đôi khi sự vay mượn cấu trúc tiếng nước ngoài vẫn xảy ra trong tiếng Việt. Đó là sự vay mượn các cấu trúc theo kiểu mô phỏng, nhưng đó thường là những cấu trúc có nhiều điểm giống với cấu trúc của tiếng Việt. Dẫu vậy, ngay cả trong những trường hợp này, người ta vẫn phải Việt hóa các cấu trúc cho phù hợp với hệ thống ngữ pháp tiếng Việt. Chẳng hạn, tuy mô phỏng cấu trúc thành ngữ của tiếng Anh là “To be armed to the teeth”, nhưng tiếng Việt không nói hoàn toàn theo ngữ pháp tiếng Anh là “được vũ trang đến những cái răng” mà nói là “được vũ trang đến tận răng”, Chính việc sử dụng cái từ “tận” rất Việt và từ “răng” mang sẵn ý nghĩa tập hợp (= những cái răng) đã khiến chúng ta cảm thấy thành ngữ này không “Tây” một chút nào. Vì vậy, có thể nói rằng, nguyên tắc Việt hóa các yếu tố vay mượn của tiếng nước ngoài phải được tuân thủ trên tất cả các cấp độ của tiếng Việt.

Như tôi đã viết (xem thêm Tri thức trẻ, số 234-246), cấu trúc “X đến từ Y.” vi phạm trật tự bình thường của cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt. Người Việt coi trật tự của các từ như vậy là trật tự nghịch. Nếu kết hợp các từ theo một trật tự nghịch thì người Việt hoặc là không hiểu hoặc là có thể hiểu theo nghĩa khác, hay ít nhất cũng cảm thấy chướng tai. Chẳng hạn, nếu một người Việt nói thế này: “Tôi vừa mới đến từ còng” thì đa số người nghe sẽ hiểu là: “Tôi vừa mới đến Từ Còng”, chứ ít ai hiểu là: “Tôi vừa mới từ Còng đến.”. Đó là do áp lực của cấu trúc thuận trong tiếng Việt. Hơn nữa, vì động từ đến vốn là cách nói rút gọn của cụm động từ đi đến, trong đó đến là từ chỉ phương hướng hay điểm đích của động từ chuyển động đi, nên không bao giờ từ và đến đi liền với nhau. Vì vậy, việc “cách tân” hay “hiện đại hóa” tiếng Việt bằng cách “nhập khẩu” cấu trúc nghịch của tiếng Anh cộng với sự kết hợp những yếu tố không thể kết hợp trực tiếp với nhau sẽ phá vỡ hệ thống ngữ pháp của tiếng Việt.

Việc sử dụng một yếu tố nào đó của tiếng Việt đương nhiên phải dựa vào ý nghĩa thực sự của yếu tố đó trong tiếng Việt. Không thể căn cứ vào ý nghĩa của một từ tương đương trong một ngôn ngữ khác để biện mình cho cách dịch của một cá nhân nào đó. Động từ đến trong tiếng Việt luôn luôn bao hàm ý nghĩa “di chuyển”, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của một số cá nhân biết tiếng Anh, do đó không thể căn cứ vào ý nghĩa của từ to come trong tiếng Anh để giải thích rằng “Anh ta đến từ Việt Nam” có ý nghĩa giống như “Anh ta là người Việt Nam” hay “Anh ta quê ở Việt Nam”, nghĩa là phủ nhận ý nghĩa “di chuyển” của động từ đến của tiếng Việt. Người Việt bình thường không cần biết động từ to come trong tiếng Anh có ý nghĩa gì. Cho nên, việc căn cứ vào ý nghĩa của động từ này trong tiếng Anh để gây áp lực đối với cách hiểu ý nghĩa của từ đến trong tiếng Việt là một việc làm phi lí mà chỉ có những người quá tôn sùng tiếng nước ngoài mới có thể nghĩ tới. Chỉ có thể hiểu được sự phi lí đó, nếu chúng ta tự đặt câu hỏi: Liệu chúng ta có thể “hiện đại hóa” tiếng Anh bằng cách nói: “He from Vietnam comes.” (= Anh ta từ Việt Nam đến) để thay cho cách nói cũ kĩ: “He comes from Vietnam.” (= Anh ta đến từ Việt Nam) được không?

Đương nhiên, ở đây còn phải nghĩ tới một vấn đề lớn hơn: Ai có thẩm quyền quyết định việc “đổi mới” hay “hiện đại hóa” tiếng Việt? Nếu mỗi cá nhân biết một ngoại ngữ nào đó chốc chốc lại “nhập khẩu” một cấu trúc của tiếng nước ngoài thì chẳng bao lâu nữa tiếng Việt sẽ biến mất giống như hàng trăm ngôn ngữ khác trên thế.

Các thế cha ông người Việt xưa kia đã bảo vệ thành công tiếng Việt khỏi sự diệt vong. Các thế hệ những dịch giả tên tuổi đã thực sự lao tâm khổ tứ để các câu văn dịch của họ hoàn toàn không chút pha tạp, mặc dù họ đã tạo ra được rất nhiều cấu trúc mới cho tiếng Việt, làm cho tiếng Việt trở thành một ngôn ngữ hiện đại như ngày nay. Họ không mắc sai lầm vì tránh được sự phụ thuộc vào cấu trúc tiếng nước ngoài. Họ đã làm chủ được cái “thần” của tiếng Việt và ngoại ngữ. Còn ngày nay, chúng ta đang bê nguyên xi từ ngữ và cấu trúc tiếng nước ngoài vào tiếng mẹ đẻ. Điều đó không chỉ nói lên thái độ làm việc mà còn nói lên sự thiếu hiểu biết về cái công cụ giao tiếp quan trọng nhất của người Việt Nam là tiếng mẹ đẻ. Với quan niệm “hiện đại hóa” ngôn ngữ như hiện nay, liệu một vài chục năm nữa, các thế hệ sau có còn nói: “Tôi có hai người bạn.” hoặc “Tôi chỉ có hai người bạn”, hay là sẽ nói: “Tôi có bạn hai người.” hoặc: “Tôi có hai người bạn chỉ.”?

_________________________________________________________

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: