TRANG CHUYÊN NGÔN NGỮ HỌC

CHÚC MỪNG NĂM MỚI!

NGUỒN GỐC TIẾNG VIỆT

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 21, 2010

Lê Đình Tư

1. Những quan điểm khác nhau

– Khái niệm Tiếng Việt chỉ có thể dùng để trỏ tiếng Việt từ khi nó bắt đầu tách ra khỏi nhóm Việt-Mường chung cách đây khoảng một nghìn năm, nghĩa là từ khi bắt đầu có cách phát âm Hán-Việt và tiếng Việt đã có đủ 6 thanh điệu. Không nên dùng khái niệm tiếng Việt đối với những giai đoạn phát triển trước đó.

– Theo quan niệm truyền thống, khái niệm tiếng Việt dùng để chỉ các nhóm ngôn ngữ nguồn gốc của nó. Ví dụ: khi tìm hiểu nền văn minh Văn Lang, Âu Lạc… người ta phải tính đến thời đại các vua Hùng cách đây khoảng 4000 năm. Thứ tiếng Việt nguyên thủy đó chắc chắn không phải là thứ tiếng Việt ngày nay.

– Quan điểm của nhà ngôn ngữ học Paulk Benedict hiện được coi là quan điểm hợp lí hơn cả.

2. Quá trình hình thành tiếng Việt

– Tiếng Việt của người Việt vốn có chung nguồn gốc với các thứ tiếng khác ở Đông Nam Á. Nó thuộc họ Nam Á. Họ Nam Á là một họ ngôn ngữ khá lớn, bao gồm những ngôn ngữ được phân bố trên một khu vực rộng lớn, bao gồm phần đông bắc Ấn Độ, một phần Miến Điện, vùng Nam Trung Quốc, một phần Malaixia, phần lớn Cămpuchia và phần lớn Việt Nam.

– Theo các nhà khoa học, cách đây khoảng 6000 năm, khu vực rộng lớn này vẫn còn nói chung một thứ ngôn ngữ gọi là ngôn ngữ Nam Á hay Nam Phương. Cùng với thời gian, các ngôn ngữ họ Nam Á dần dần tách ra thành những nhóm riêng biệt. Đầu tiên là nhóm Munđa ở đông bắc Ấn Độ và nhóm Mèo-Dao ở phía nam Trung Quốc ngày nay.

– Các ngôn ngữ Nam Á có chung những đặc điểm:

+ Có hệ thống ngữ pháp cơ bản giống nhau, ví dụ: khung ngữ pháp của tiếng Việt, Khmer, Lào, Thái… không khác nhau mấy;
+ Có cách cấu tạo từ giống nhau;
+ Có hình thức lặp, láy giống nhau;
+ Cách luân phiên giống nhau.

– Vào những thiên niên kỉ tiếp theo, các tiếng Nam Á chung dần dần tách ra thành các nhóm riêng biệt: Nhóm Munđa ở đông bắc Ấn Độ và nhóm Mèo-Dao ở phía Nam Trung Quốc ngày nay tách ra trước tiên, sau đó có các đợt di dân của những bộ tộc nói tiếng Tạng Miến xuống địa bàn Mianma ngày nay thúc đẩy sự tách riêng một số ngôn ngữ như tiếng Khasi chẳng hạn.

– Vào khoảng trên 4000 năm trước, tiếng Nam Á chung do sự tiếp xúc với tiếng Hán-Tạng và các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ châu Đại Dương (tiếng Papua), đã tách ra thành ba dòng chính:

+ Dòng Đồng-Thái, gồm các ngôn ngữ phân bố ở phần phía nam sông Trường Giang;
+ Dòng Mã Lai-Nam Đảo, gồm các ngôn ngữ phân bố ở phần cực nam Đông Nam Á tiền sử;
+ Dòng Môn-Khơme, bao gồm các ngôn ngữ phân bố ở vùng cao nguyên trung phần Đông Nam Á tiền sử (cao nguyên Cồ rạt ở Thái Lan, cao nguyên Bôlôven ở Lào và cao nguyên khu Bốn cũ (Thanh Hóa, Nghệ An) của Việt Nam). Tiếng Việt được tách ra từ dòng ngôn ngữ này. Do đó, tổ tiên xa xưa của tiếng Việt là tiếng Môn-Khơme, bao gồm hàng trăm ngôn ngữ phân bố thành 3 vùng lớn: Bắc Mon-Khmer, Nam Mon-Khmer và Đông Mon-Khmer.

– Từ tiếng Đông Mon-Khmer tách ra một ngôn ngữ gọi là proto Việt-Katu. Sau một thời gian, ngôn ngữ này lại tách ra làm hai là Katu và proto Việt Chứt. Tổ tiên trực tiếp của người nói tiếng Việt ngày nay là các bộ tộc người nói tiếng proto Việt Chứt này. Các cư dân nói tiếng proto Việt Chứt lúc đầu (hơn 4000 năm trước) sống ở vùng trung du và sơn cước (vùng Thượng Lào và bắc khu Bốn cũ), về sau di chuyển xuống vùng đồng bằng Bắc Bộ ngày nay. Do sự tiếp xúc với các ngôn ngữ Tày-Thái, tiếng proto Việt Chứt thay đổi để trở thành tiếng Tiền Việt Chứt với cơ tầng Mon-Khmer và có sự mô phỏng cơ chế vận hành Tày-Thái. Quá trình này diễn ra ở thời đại mà sử Việt Nam vẫn gọi là thời đại các vua Hùng. Dần dần về sau, tiếng Tiền Việt Chứt đi sâu vào quá trình đơn tiết hóa, thanh điệu hóa và rụng dần các phụ tố để trở thành tiếng Việt Mường chung (khoảng 2700- 2800 năm trước).

– Do quá trình tiếp xúc lâu dài với tiếng Hán dưới thời Bắc thuộc, vào khoảng từ thế kỉ VIII đến thế kỉ XII, tiếng Việt Mường chung ở phía Bắc tách ra làm hai: Bộ phận nằm sâu ở vùng rừng núi các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ít bị ảnh hưởng của tiếng Hán hơn nên bảo lưu yếu tố cũ và trở thành tiếng Mường, còn bộ phận ở vùng đồng bằng Bắc Bộ thì do ảnh hưởng của tiếng Hán mà dần dần tách thành tiếng Kinh (tiếng Việt). Quá trình tách đôi hai ngôn ngữ này bắt đầu khoảng hơn 1000 năm trước. Kể từ lúc đó, tiếng Việt mới thực sự trở thành một ngôn ngữ độc lập.

________________________________________________

Advertisements

4 phản hồi to “NGUỒN GỐC TIẾNG VIỆT”

  1. Trần Hoàng Trọng Nhân - 26 tuổi - 0902942018 said

    Xin lỗi bác, cho cháu hỏi là bác tham khảo những thông tin này từ tài liệu nào vậy? Vì cháu đang nghiên cứu về nguồn gốc ngôn ngữ tiếng VIỆT nên bác giúp dùm. Xin cám ơn.

  2. nguyen thi minh dinh said

    Nhưng cho cháu được hỏi, tại sao bảng chữ tiếng Việt ,lai giống bảng chữ cái của tiếng anh ,vì cháu đang dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Xin bác trả lời dùm, cháu xin chân thành cám ơn

  3. Lương Bắc said

    Tôi làm nghề địa chất đã nghỉ hưu, email luonglbc@gmail.com xin có ý kiến như sau:
    Bài viết diễn giải hợp lý sự tiến hóa “… Đông Mon-Khmer = proto Việt-Katu =>proto Việt-Chứt =>Việt-Mường =>Việt (Kinh)”. Nhưng khi ráp với địa lý và khảo cổ thì e chưa khớp. Nếu như “…Các cư dân nói tiếng proto Việt-Chứt lúc đầu (hơn 4000 năm trước) sống ở vùng trung du và sơn cước (vùng Thượng Lào [đúng ra là các tỉnh Bolikhamsai, Khammouane ở Trung Lào] và bắc khu Bốn cũ), về sau di chuyển xuống vùng đồng bằng Bắc Bộ ngày nay…”, thì ai là chủ Văn hóa Đông Sơn (4000 BP – 200 AD) tại vùng Đông Sơn, Thanh Hóa. Chẳng lẽ hồi 4000 BP (Before Present) nhóm đến đồng bằng đã biết ngay được cách “trồng lúa nước” và “đúc trống đồng Đông Sơn” rồi trở thành Việt-Mường, còn người anh em Chứt, Nguồn, Thaveung, Mlengbrou,… ở lại sơn cước thì không?
    Theo Wikipedia /Prehistory thì vào thời Middle Paleolithic, khoảng 200.000 BP, dấu hiệu giải phẫu của Homo sapiens cho thấy đã xuất hiện ngôn ngữ. Như vậy có lẽ sự tiến hóa ngôn ngữ này phải trải dài hơn. Và sự tách ra thành Việt-Mường “biết chiếm cứ đồng bằng & núi thấp, biết trồng lúa nước, đúc trống đồng” diễn ra trong quá trình dài và xưa hơn 4000 BP rất nhiều.
    Mặt khác, tôi cũng thấy: Khi nói đến “trống đồng”, thì lại có thêm vấn đề khác. Đó là Trống đồng kiểu Đông Sơn có mặt ở nhiều vùng của Đông Nam Á, ví dụ xem “Nước Lào cũng giống nước ta” (Bách Việt trùng cửu, 16/05/2012 http://nhat.1forum.biz/t303-topic). Tại Bắc phần VN thì mỏ đồng ở mãi trên vùng núi cao Tây Bắc, như Sinh Quyền, người Việt cổ khó có thể tiếp cận.
    Vậy người Đông Nam Á có thể lấy đồng ở đâu? Khả dĩ nhất, là trên đường phát tán Out Of Africa, người Đông Nam Á đã phát hiện ra đồng khi sống và đốt lửa (dẫn đến hoàn nguyên đồng) tại Mỏ đồng nổi tiếng Letpadaung ở thị trấn Monywa, bang Sagaing, Myanmar, hoặc các mỏ nhỏ hơn ở tỉnh Loei, Thailand (giáp với Lào). Cũng có thể một bộ phận trước đó đã phát hiện trồng lúa nước ở đồng bằng Bangladesh và Myanmar. Sau đó do sức ép xâm lược của người Europid ở tiểu lục địa Ấn Độ, người Đông Nam Á phải thiên di về phía đông. Do công cụ của họ là tre gỗ, và do băng hà trên Hymalaya tan dẫn đến đại hồng thủy, mà di vật của họ ở vùng này dường như không còn. Sự tách ra của người Việt-Mường với người anh em Vietic khác có lẽ xảy ra vào lúc bắt đầu thiên di này, trong đó người Việt-Mường đã quen trồng lúa nên tìm đến đồng bằng sông Mã, sông Hồng và có thể cả “hồ Động Đình” bên TQ ngày nay.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: