TRANG CHUYÊN NGÔN NGỮ HỌC

CHÚC MỪNG NĂM MỚI!

Posts Tagged ‘liên kết hình thức’

Một số vấn đề về ngữ pháp văn bản tiếng Việt (tiếp theo)

Posted by tuldvnhloc on Tháng Tư 15, 2012

4. Sự liên kết nội dung trong văn bản tiếng Việt

Khác với ở bình diện liên kết hình thức, ở bình diện liên kết nội dung (hoặc liên kết ngữ nghĩa), các phương tiện liên kết phong phú hơn rất nhiều. Ở đây có thể quan sát thấy sự tham gia của tất cả các yếu tố ngôn ngữ trong việc tạo ra tính hoàn chỉnh về nội dung của văn bản.

Liên kết nội dung trước hết nhằm tới ba mục tiêu: (i) thể hiện được chủ đề của văn bản, (ii) tạo được tính chặt chẽ, lôgích của văn bản và (iii) kết nối được các văn bản, nếu cần, trong những tình huống giao tiếp nhất định. Điều này có nghĩa là liên kết nội dung văn bản quyết định tới việc, liệu văn bản có thỏa mãn được sáu đặc trưng còn lại (tức là trừ đặc trưng về ‘tính liên kết hình thức’) của văn bản hay không.

4.1 Liên kết chủ đề

4.1.1 Lặp từ vựng

Để bảo đảm cho văn bản có tính liên kết chủ đề, nghĩa là các câu phải cùng hướng tới việc thể hiện một chủ đề cho trước, thì biện pháp đơn giản nhất là lặp từ vựng. Biện pháp lặp từ vựng, nói chung, dựa trên việc sử dụng những yếu tố từ vựng (từ, tên gọi, cụm từ) trong các phát ngôn khác nhau, khiến cho chủ đề của văn bản được duy trì. Tuy nhiên, ở đây có thể quan sát thấy hai hiện tượng lặp từ vựng: ‘lặp cả âm và nghĩa’ và ‘lặp nghĩa’.

(1) Lặp cả âm và nghĩa, tức là lặp lại trong một/ những phát ngôn mới những đơn vị từ vựng đã được sử dụng ở một phát ngôn khác. Trong thực tế, cũng giống như trong lặp ngữ âm và lặp ngữ pháp, các đơn vị từ vựng có thể được lặp lại đầy đủ hoặc chỉ được lặp lại một bộ phận. Vì vậy, có thể phân biệt ‘lặp hoàn toàn’ và ‘lặp bộ phận’.

Trong trường hợp lặp từ, biện pháp chủ yếu là lặp hoàn toàn, mặc dù cũng có thể quan sát thấy những trường hợp lặp bộ phận. Ví dụ:

(i) Lặp hoàn toàn:

Tôi nghĩ đó là chuyện buồn. Tôi chưa đến bảy mươi. Mặc dầu vậy xin đừng kể, ngày hôm nay xin đừng kể bất cứ điều gì buồn. (CĐTM)

(ii) Lặp bộ phận:

Tôi không ưa danh thiếp, đó là một thứ biểu hiện quy ước, thường là giả dối. Bản thân tôi cũng ít khi gửi thiếp. (CH)

Đối với trường hợp lặp cụm từ thì lặp bộ phận thường được dùng để tránh gây cảm giác nặng nề, hoặc để tiết kiệm lời. Khi lặp bộ phận, người ta thường phải dùng đại từ chỉ định (này, ấy, đó …) để tăng thêm tính liên kết giữa các câu. Tuy nhiên, đối với các tên gọi của các tổ chức, cơ quan hay phong trào… thì không nhất thiết phải dùng đại từ chỉ định đó. Ví dụ:

(i) Lặp hoàn toàn:

Bình thường thì các thi hài được chuyên chở bằng máy bay trong những chiếc quan tài kẽm đặc biệt.[…]. Ở Lvov không có quan tài kẽm cho Natalia. (CĐTM)

(ii) Lặp bộ phận:

Ban lãnh đạo Phòng thể dục thể thao quận đã xuống hiện trường cùng công an quận, phường tiến hành lập biên bản và điều tra sự việc. Sau đó đại diện ban lãnh đạo Phòng và Chủ nhiệm hồ bơi Chi Lăng đã đến gia đình nạn nhân thăm hỏi chia buồn và hỗ trợ cho gia đình số tiền là 2.000.000 đ để lo mai táng. (Tờ trình)

(2) Lặp nghĩa

‘Lặp nghĩa’ cũng dựa trên việc ‘lặp lại’ nhưng chỉ là lặp nội dung chứ không lặp âm thanh của của một từ, một tên gọi hay một cụm từ. Biện pháp này không chỉ có tác dụng tạo sự liên kết cho văn bản mà còn tránh được cảm giác đơn điệu hoặc bổ sung những thông tin phụ (ví dụ: sư đánh giá tốt/ xấu hay diễn đạt những sắc thái nghĩa khác nhau). Thực chất, đây là biện pháp sử dụng một đơn vị tương đương để thay thế cho một đơn vị đã được sử dụng trong một phát ngôn khác.

Những đơn vị có thể thay thế nhau phải là những đơn vị có nghĩa/ giá trị tương đương nhau nên ‘từ đồng nghĩa’ thường được dùng làm phương tiện để lặp nghĩa. Tuy nhiên, trong ngôn ngữ, nói chung, thường ít xảy ra hiện tượng đồng nghĩa hoàn toàn mà chủ yếu là hiện tượng gần nghĩa, nên biện pháp này có thể thay đổi một phần ý nghĩa được lặp lại, tức là bổ sung cho nó một nội dung nào đó (xem bên dưới). Vì vậy, phương thức lặp đồng nghĩa có tác dụng làm cho văn bản trở nên đa dạng và phong phú. Ngoài từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa, còn có những phương tiện khác cũng được dùng để lặp nghĩa như: đại từ, cách nói vòng hay hoán dụ… Ví dụ:

(i) Lặp nghĩa dùng yếu tố đồng nghĩa:

Sinh nhật. Anh đã ra đời như thế nào nhỉ? (CĐTM)

(ii) Lặp nghĩa dùng đại từ:

Anh thì thầm. Đôi khi anh thì thầm bằng tiếng Pháp. Cô thích nhất thế. (CĐTM)

(iii) Lặp nghĩa dùng cách nói vòng:

Nhiều người bảo chùa Bà Đanh không linh, không ai đến là sai. Mặt khác làng Đanh Xá hy vọng rằng, cái tên ngôi chùa vắng sẽ được nhiều người biết đến bằng cái tên ngôi chùa đệ nhất khách. (báo GDVN)

(iv) Lặp nghĩa dùng hoán dụ:

Người mẫu không chỉ có thù lao thấp hơn mà số sô diễn trong ngày, trong tuần cũng không bao giờ bằng ca sĩ. Giỏi lắm một siêu mẫu có chừng ba sô diễn một tuần đã là “như mơ”. Trong khi với những ca sĩ đương thời thì một đêm chạy sô bốn điểm diễn là bình thường, hỏi sao các chân dài hiện nay không tính đường lấn sân ca hát dù thực lực có hạn! (báoTuổi trẻ)

4.1.2 Đối nghĩa

Đối nghĩa là phương thức liên kết chủ đề sử dụng những đơn vị ngôn ngữ (từ hoặc cụm từ) có ý nghĩa đối lập nhau trong những phát ngôn khác nhau để tạo ra sự liên kết nội dung giữa các phát ngôn đó. Tuy nhiên, khái niệm ‘nghĩa đối lập’ không đồng nhất với khái niệm ‘từ trái nghĩa’, vì ở đây các yếu tố có nghĩa đối lập không phái bao giờ cũng là những từ trái nghĩa mà có thể chỉ là những yếu tố được xã hội hay cá nhân nhìn nhận là có nghĩa đối lập nhau, vi dụ như: xuân/hạ/thu/đông, hay thậm chí: cao/lắm, rộng/nhiều. (xem ví dụ bên dưới). Do vậy, sự đối lập nghĩa trong những trường hợp này thường mang tính chất lâm thời và thể hiện tính sáng tạo của các cá nhân.

Trong tiếng Việt, đối nghĩa được sử dụng như là biện pháp liên kết quan trọng nhất trong những văn bản đặc biệt gọi là ‘câu đối’. ví dụ:

Nhà cao cửa rộng con rể ở

Tiền lắm bạc nhiêu cháu ngoại tiêu.

Trong các văn bản bình thường, sự đối lập nghĩa thường gần với hiện tượng trái nghĩa hơn, trong đó có cả hiện tượng đối phủ định, ví dụ:

Những người yếu đuối vẫn hay hiền lành. Muốn ác phải là kẻ mạnh.

hoặc:

Nếu trạng thái yêu kéo quá dài, con người sẽ chết vì kiệt sức, rối loạn nhịp tim hoặc tim đập nhanh, vì đói hoặc hội chứng mất ngủ. Những người dù sao cũng không bị chết, thì trong trường hợp khá nhất cũng phải vào bệnh viện tâm thần. (CĐTM)

4.1.3 Liên tưởng

Biện pháp liên tưởng thể hiện ở việc sử dụng trong những phát ngôn khác nhau những đơn vị ngôn ngữ (từ, cụm từ) có liên quan về nghĩa với nhau hoặc được liên hệ mạnh mẽ với nhau để tạo sự liên kết giữa các phát ngôn đó.

Sự liên tưởng luôn luôn dựa trên hai loại quan hệ: nội ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ, do đó ở đây có thể có hai kiểu liên tưởng:

(i) Liên tưởng dựa trên quan hệ nội ngôn ngữ (trong phạm vi của cái gọi là trường nghĩa), ví dụ:

Ở đây tuyệt nhiên không có một nhà thờ nào. Mà em thì muốn cầu nguyện biết bao. Dù sao thì em vẫn muốn cầu nguyện. Em mang theo cây thánh giá bằng gỗ của mẹ. (CĐTM)

(ii) Liên tưởng dựa trên quan hệ ngoài ngôn ngữ (liên quan đến kiến thức ngoài ngôn ngữ), ví dụ:

Có lẽ tôi không còn là người Xlavơ nữa. Tôi không uống rượu, rất đúng giờ, giữ lời hứakhông tổ chức các cuộc khởi nghĩa. (CĐTM).

Những yếu tố như: thuộc tính điển hình, vị trí điển hình hay chức năng điển hình của người/ sự vật là những yếu tố quyết định đến khả năng sử dụng biện pháp liên tưởng ngoài ngôn ngữ.

4.1.4 Tỉnh lược

Tỉnh lược là biện pháp lược bỏ một/ một số thành phần nào đó của một phát ngôn nhằm tránh lặp lại chúng trong một/ những phát ngôn khác. Chính nhờ sự lược bỏ này mà các phát ngôn có quan hệ chặt chẽ với nhau. Biện pháp này còn có tác dụng tránh lặp từ vựng và lặp nghĩa (không dùng yếu tố đồng nghĩa hay đại từ). Yếu tố tỉnh lược có thể là bất cứ thành phần nào đó của phát ngôn. Ví dụ:

Từ lâu anh đã thích mùi nước hoa. Chúng như một bức thông điệp mà người ta muốn truyền đạt. Mà không cần đến bất cứ một ngôn ngữ nào.

Hoặc:

Cô đam mê ngủ. Đặc biệt là thời gian gần đây. Cô có những giấc mơ không bình thường. (CĐTM)

(còn nữa)

Posted in Ngữ pháp học, Ngữ pháp miêu tả tiếng Việt | Tagged: , , , , , , , , , | Leave a Comment »

Một số vấn đề về ngữ pháp văn bản tiếng Việt (tiếp theo)

Posted by tuldvnhloc on Tháng Ba 25, 2012

2.3 Những đặc trưng của văn bản
Văn bản tiếng Việt hiện nay cũng được xem xét trên các bình diện đã nói ở trên. Tuy nhiên, trong thực tế nghiên cứu và miêu tả, các bình diện của văn bản không phải bao giờ cũng được xem xét một cách riêng rẽ mà có thể được xem xét kết hợp dưới góc độ một đặc trưng nào đó của nó. Chẳng hạn, tính liên kết của văn bản không chỉ được miêu tả trên bình diện cấu tạo hình thức mà còn cả trên bình diện nội dung của nó, nghĩa là có thể nói tới ‘sự liên kết hình thức’ và ‘sự liên kết nội dung’ của văn bản. Chính vì vậy, khi nghiên cứu về ngữ pháp văn bản, người ta thường tiếp cận văn bản từ phía các đặc trưng của chúng. Đó là những đặc trưng giúp ta nhận biết văn bản trong số những đơn vị ngôn ngữ khác không phải là văn bản (gọi chung là ‘tính văn bản’ hay ‘các phạm trù của tính văn bản’). Trong ngữ pháp văn bản, người ta thường nêu lên những đặc trưng chủ yếu sau đây [dựa theo đề xuất của Beaugrande i Dressler(1990)]:
– tính liên kết (kohezja),
– tính mạch lạc (koherencja),
– tính chủ định (intencjonalność),
– tính chấp nhận được (akceptowalność),
– tính thông tin (informacyjność),
– tính tình huống (sytuacyjność) ,
– tính liên văn bản (intertekstualność)
Cũng chính vì vậy, văn bản được định nghĩa là ‘một sự kiện giao tiếp đáp ứng được bảy tiêu chuẩn về tính văn bản” nói trên. Nếu thiếu bất kỳ một tiêu chuẩn nào trong số đó thì „văn bản” cũng không mang tính giao tiếp, mà không có tính giao tiếp thì ngôn phẩm sẽ không phải là văn bản.

2.4 Phân loại văn bản
Nói chung, cho đến nay, việc phân loại văn bản trong giới ngôn ngữ học thường không nhất quán, đó là vì văn bản có thể được phân loại theo những cách khác nhau, tùy theo góc độ quan sát văn bản. Chẳng hạn, có thể phân biệt những cặp văn bản đối lập như ‘văn bản nói’/ văn bản viết’; ‘văn bản ngẫu sinh’/ ‘văn bản tái sinh’ (‘sao chép’); ‘văn bản công khai’/ ‘văn bản riêng tư’; ‘văn bản thông dụng’/ ‘văn bản nghệ thuật’; ‘văn bản tự sự’/ văn bản mô tả’…
Trong tiếng Việt, văn bản cũng có thể phân loại theo những cách khác nhau, cụ thể như sau:
(i) Xét về dạng thức tồn tại: ‘văn bản nói’ và ‘văn bản viết’. Tuy nhiên, ở đây cần phải nhấn mạnh rằng, sự phân biệt hai loại văn bản như trên không chỉ căn cứ vào dạng thức tồn tại mà trước hết là căn cứ vào những đặc điểm của những phương tiện dùng để cấu tạo nên văn bản (ví dụ: đặc điểm của từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp).
(ii) Xét về kiểu cấu tạo: ‘văn bản ổn định’, được xây dựng theo những mô hình đã trở thành khuôn mẫu (ví dụ: đơn từ, tờ khai, hợp đồng), ‘văn bản thông dụng, được xây dựng theo một mô hình thông dụng, có tính đến những yếu tố như thói quen truyền thống, trình tự trình bày các phần (ví dụ: tiểu luận, luận văn khoa học, tờ trình), và ‘văn bản tự do’, được xây dựng không theo một mô hình hay bố cục nhất định nào mà do người viết tự ý sáng tạo ra (ví dụ: tác phẩm văn học, sách khoa học thường thức)
(iii) Xét về phong cách chức năng: ‘văn bản hành chính’, ‘văn bản báo chí-chính luận’, ‘văn bản khoa học’ và ‘văn bản văn chương’.

Ngoài ra, có thể phân biệt các văn bản về mặt quy mô. Xét về mặt này, có thể phân biệt: ‘văn bản một phần’ (chỉ bao gồm phần tin), ‘văn bản hai phần’ (phần mở đầu và phần tin) và ‘văn bản ba phần’ (mở đầu, phần tin và phần kết).

3. Sự liên kết hình thức giữa các câu trong văn bản tiếng Việt

Để liên kết hình thức các câu/ phát ngôn (từ đây sẽ gọi chung là phát ngôn) trong văn bản, tiếng Việt sử dụng một số ‘yếu tố ngữ âm’ (âm tiết, vần, phụ âm đầu, thanh điệu) và ‘yếu tố ngữ pháp’ (hư từ, cấu trúc ngữ pháp). Phương thức sử dụng các yếu tố liên kết này là ‘lặp lại’ chúng trong những phát ngôn khác nhau và nhờ đó tạo ra sự liên kết giữa các phát ngôn đó.

3.1. Lặp ngữ âm
Phép ‘lặp ngữ âm’ thường được dùng trong các tác phẩm thi ca, (hay chung hơn: ‘văn vần’). Trong các loại văn bản khác, gọi chung là ‘văn xuôi’, phương thức này ít khi được sử dụng.
Trong văn vần, trước tiên phải nói đến phương thức ‘lặp số lượng âm tiết’. Phương thức này cho phép tạo ra các thể thơ khác nhau. Chẳng hạn, nếu số lượng các âm tiết được lặp đi lặp lại đều đặn giữa các câu kế tiếp nhau thì ta sẽ có các thể thơ bốn chữ, thơ năm chữ hay thơ bảy chữ… So sánh:

1) Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt
Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt

(ca dao)

2) Đường lúc hoàng hôn xuống,
Là lúc viễn khách đi.
Nước đượm màu li biệt,
Trời vương hương biệt li

(Xuân Diệu – Viễn khách)

3) Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son
.
(Hồ Xuân Hương – Bánh trôi nước)

Còn nếu số lượng âm tiết được lặp lại ở những câu đứng cách nhau hoặc kết hợp cả hai cách lặp nói trên thì ta có các thể thơ lục bát hay song thất lục bát. So sánh:

4) Bao giờ anh lấy được nàng,
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây.
Xây dọc rồi lại xây ngang,
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
.
(ca dao)

(5) Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ
Chàng há từng học lũ vương tôn.
Cớ sao cách trở nước non,
Khiến người thôi sớm, thôi hôm, những sầu
.
(Đoàn Thị Điểm – Chinh phụ ngâm)

Phương thức ‘lặp vần’ cũng là một phương thức lặp ngữ âm phổ biến để tạo ra sự liên kết giữa các câu thơ. Tuy nhiên, các vần không phải bao giờ cũng được lặp lại hoàn toàn mà có thể chỉ là lặp một phần nhưng phải tuân theo những nguyên tắc về luật hài âm. Ví dụ:

(i) Lặp hoàn toàn:

Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non.

(Chinh phụ ngâm)

(ii) Lặp bộ phận:
Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường?

Ngoài ra, còn có ‘lặp âm tiết’, nhưng theo kết quả nghiên cứu (ví dụ: Trần Ngọc Thêm), phương thức này ít khi được sử dụng.
Trái lại, trong văn xuôi, phương thức lặp vần tuy cũng được sử dụng nhưng rất ít gặp. Phương thức lặp ngữ âm phổ biến ở đây là lặp số lượng âm tiết và thường đi kèm với ‘lặp ngữ pháp’. (xem bên dưới). Đó là do phương thức lặp ngữ âm trong văn xuôi chỉ tạo ra một độ liên kết không đáng kể, chủ yếu là tạo cho văn bản văn xuôi tính nhạc điệu hay âm hưởng thơ.

3.2 Lặp ngữ pháp
Phương thức ‘lặp ngữ pháp’ thể hiện ở việc lặp lại một hay một số yếu tố ngữ pháp của một phát ngôn ở một phát ngôn khác để tạo ra sự liên kết giữa chúng.
Như vậy, lặp ngữ pháp bao gồm ‘lặp từ ngữ pháp’ (còn gọi là ‘lặp hư từ’) và ‘lặp cấu trúc ngữ pháp’ (còn gọi là ‘lặp cú pháp’) của các phát ngôn. Thông thường, để tăng thêm độ liên kết của hai phát ngôn, người ta kết hợp sử dụng cả hai phương thức này, nghĩa là lặp cả cấu trúc ngữ pháp và hư từ. Có thể quan sát thấy những trường hợp sau:

(i) Chỉ lặp cấu trúc ngữ pháp, ví dụ:
“Từng ngày, mẹ thầm đoán con đã đi đến đâu. Từng giờ, mẹ thầm hỏi con đang làm gì.” (Nguyễn Thị Như Trang. Tiếng mưa).

(ii) Chỉ lặp từ ngữ pháp, ví dụ:
“Nước Việt Nam muôn ngàn cây lá khác nhau. Cây nào cũng đẹp, cây nào cũng qúy, nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa.” (Thép Mới – Cây tre)

(iii) Lặp cấu trúc và từ ngữ pháp, ví dụ:
Nếu không có nhân dân thì không đủ lực lượng. Nếu không có chính phủ thì không ai dẫn đường.” (Hồ Chí Minh).

Kiểu lặp này rất phổ biến trong các văn bản tiếng Việt, nhất là các văn bản cổ.
Nói chung, trong trường hợp này, lặp cú pháp là phương thức cơ bản. Và, như đã nói ở trên, lặp cấu trúc có thể được kết hợp với lặp ngữ âm. [trường hợp (iii)].
Cũng giống như ở phương thức lặp ngữ âm, ở đây cũng có thể có ‘lặp hoàn toàn’ và ‘lặp một phần’.

(còn nữa)

Posted in Ngữ pháp học, Ngữ pháp miêu tả tiếng Việt | Tagged: , , , , , , , , , , | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 75 other followers