TRANG CHUYÊN NGÔN NGỮ HỌC

CHÚC MỪNG NĂM MỚI!

Posts Tagged ‘danh từ chung’

Danh từ (tiếp theo)

Posted by tuldvnhloc on Tháng Mười Hai 18, 2010

2. Danh từ chung

2.1. Xét về ý nghĩa, danh từ chung tiếng Việt có thể được phân thành những nhóm sau đây:

- Danh từ chỉ sự vật: Là những danh từ chỉ người, động vật, vật, hiện tượng, khái niệm, ví dụ: sinh viên, mèo, bánh, giảng đường, mưa, xã hội, văn hóa.
Loại danh từ này có thể được chia thành nhiều nhóm nhỏ, ví dụ: danh tử chỉ vật thể, danh từ chỉ chất thể, danh từ trừu tượng, danh từ chỉ sự vật tưởng tượng, v.v.

- Danh từ chỉ vị trí: Là những danh từ biểu thị địa điểm và hướng trong không gian. Ví dụ: phía, phương, bên, miền, vùng, trên, dưới, nam, bắc, đông, tây. Trong tiếng Việt, những từ này thường được kết hợp với nhau để biểu thị rõ vị trí, địa điểm hay phương hướng. Ví dụ: phía nam, phương tây, bên trên.

- Danh từ chỉ đơn vị: Là những từ biểu thị đơn vị đo lường. Đó có thể là từ chỉ đơn vị đo lường chính xác hoặc áng chừng.

+ Danh từ chỉ đơn vị đo lường chính xác là những đơn vị do các nhà khoa học quy ước đặt ra. Những đơn vị này mang tính quốc tế. Ví dụ: hécta, mét, lít, kilôgam, vôn.
+ Danh từ chỉ đơn vị đo lường áng chừng là những danh từ chỉ đơn vị đo lường của dân gian, do nhân dân quy ước đặt ra. Ví dụ: nắm, miếng, nải, chùm, bơ, thúng, thìa, bước, sải, gang, mớ, bó.

-Danh từ chỉ loại thể (còn gọi là loại từ): Là những danh từ dùng để chỉ đơn vị rời khi được kết hợp với các danh từ có ý nghĩa tổng loại. Ví dụ: cái, con, quả, củ, tấm, bức, sợi, quyển, cơn, trận, viên, hòn, bộ, vị, ngài, cây, người, đàn, làn. Những từ này được sử dụng cùng với các danh từ có ý nghĩa tổng loại để thể hiện tính chất cụ thể của danh từ đó. Ví dụ: So sánh: Việt Nam có nhiều bão/ Trận bão này có thể đổ bộ vào miền Trung.

2.2. Xét về cấu tạo, danh từ tiếng Việt có thể được phân thành những nhóm sau đây:

- Danh từ đơn

Đây là những danh từ được cấu tạo bằng một hình vị cấu tạo từ duy nhất. Tuy nhiên, hình vị cấu tạo từ trong tiếng Việt có thể trùng với một hay nhiều âm tiết, do đó danh từ đơn có thể là từ đơn tiết hoặc đa tiết. Ví dụ:

+ Từ đơn tiết: nhà, sân, vườn, cá, cơm, hành, tỏi.
+ Từ đơn đa tiết: châu chấu, cao su, sầu riêng, chôm chôm.

- Danh từ ghép

Đó là những danh từ được cấu tạo bằng hai hay nhiều hình vị cấu tạo từ. Các hình vị cấu tạo nên danh từ ghép được kết hợp với nhau theo một số loại quan hệ, do đó có thể căn cứ vào tính chất của quan hệ giữa các hình vị để phân biệt các loại danh từ ghép. Ví dụ:

+ danh từ ghép đẳng lập: trâu bò, nhà cửa, ruộng vườn, đường sá, chó má.

+ danh từ ghép chính phụ: xe lửa, dưa chuột, máy bay, tàu thủy.

+ danh từ ghép láy: (con) loăng quăng, (cái) bình bịch, bong bóng, thung lũng, đom đóm.

2.3. Danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp

Danh từ tiếng Việt còn có thể phân thành những nhóm căn cứ vào ý nghĩa cấu trúc của từ. Xét về mặt ngữ pháp, việc phân loại này hết sức quan trọng, vì nó giúp ta hiểu đúng và sử dụng đúng các danh từ trong tiếng Việt.

- Danh từ có nghĩa tổng hợp (hay danh từ tổng hợp)là loại danh từ biểu thị khái niệm khái quát về những sự vật, hiện tượng cùng loại hoặc có quan hệ với nhau. Đây là những danh từ ghép đẳng lập đã nói ở trên. Có ba cách để tạo ra danh từ loại này:

+ Ghép hai danh từ có nghĩa khác nhau để tạo ra một danh từ có ý nghĩa tổng hợp hay khái quát, ví dụ: xăng dầu, tàu xe, điện nước, quần áo, bàn ghế.
+ Ghép hai danh từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau để tạo ra danh từ có ý nghĩa tổng hợp hay khái quát, ví dụ: binh lính, phố phường, sông suối, núi non, ruộng đồng.
+ Ghép một danh từ rõ nghĩa với một danh từ mờ nghĩa hoặc không có nghĩa đế tạo ra danh từ có nghĩa tổng hợp hay khái quát, ví dụ: chim chóc, chợ búa, đường sá, xe cộ, báo chí.

Cần ghi nhớ rằng, loại danh từ này không có khả năng kết hợp với các từ chỉ đơn vị rời (danh từ loại thể). Ví dụ: Không thể nói: con trâu bò; anh bạn bè; cái xe cộ.

- Danh từ khôngcó nghĩa tổng hợp (hay danh từ không tổng hợp) là những từ biểu thị toàn bộ tập hợp các sự vật, hiện tượng cùng loại (có ý nghĩa tổng loại). Đó có thể là những từ đơn hoặc là từ ghép chính phụ đã nói bên trên.
Các danh từ ghép loại này được tạo ra bằng cách:

+ kết hợp danh từ với danh từ (thường có một danh từ mờ nghĩa), ví dụ: xe lửa (tàu hỏa), nhà máy, nhà chính trị, nhà kinh tế, ca sĩ, nhạc sĩ.
+ kết hợp danh từ với động từ, ví dụ: máy bay, máy hút bụi, máy chém, học viên, giáo viên, cứu hỏa, đánh ghen.

Những danh từ này thường được kết hợp với các danh từ chỉ đơn vị rời để biểu thị tính chất đơn lẻ. Ví dụ: cá → con cá; giáo sư → ông giáo sư; dưa chuột → quả dưa chuột; máy bay → cái máy bay.

2.4. Danh động từ/danh tính từ

Đây là những danh từ dùng để chỉ khái niệm trừu tượng có nguồn gốc động từ hoặc tính từ. Điểm đặc biệt của loại danh từ này là tính chất lỏng lẻo của quan hệ giữa các bộ phận cấu tạo từ. Loại danh từ này được tạo ra bằng cách kết hợp các hình vị có ý nghĩa ngữ pháp với động từ hoặc tính từ để chuyển từ loại của từ. Ví dụ:
cuộc vui, cuộc sống, cuộc đấu tranh, sự giải phóng, sự trong trắng, niềm vui, niềm tin, nỗi nhớ, nỗi buồn, cái đẹp, cái ăn, lòng nhân đạo, lòng yêu nước, tính sáng tạo, tính cần cù.

_______________________________________________

Posted in Ngữ pháp học, Ngữ pháp miêu tả tiếng Việt | Tagged: , , , , , , , , , , | 3 Comments »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 78 other followers