TRANG CHUYÊN NGÔN NGỮ HỌC

CHÚC MỪNG NĂM MỚI!

Archive for the ‘Ngữ nghĩa từ vựng học’ Category

Sự biến đổi ý nghĩa của từ (tiếp theo)

Posted by tuldvnhloc on Tháng Bảy 12, 2010

LÊ Đình Tư
(Trích từ: Lê Đình Tư & Vũ Ngọc Cân. Nhập môn ngôn ngữ học. Hà Nội, 2009)

3. Các phương thức biến đổi ý nghĩa của từ

Phương thức biến đổi ý nghĩa của từ là cách thức bổ sung nghĩa mới cho từ không kèm theo sự biến đổi về từ ngữ âm, làm cho từ trở thành từ nhiều nghĩa.

Trong ngôn ngữ học, người ta đã tổng kết được ba phương thức chủ yếu mà các ngôn ngữ thường dùng để biến đổi ý nghĩa của từ. Đó là:

3.1. Giữ tên gọi cũ để chỉ những sự vật, hiện tượng hay khái niệm mới hoặc đã thay đổi

Về nguyên tắc, khi xuất hiện một sự vật, hiện tượng hay khái niệm mới, hoặc khi sự vật, hiện tượng trước đây đã thay đổi thì xã hội phải tạo ra một vỏ âm thanh mới để biểu thị nó. Song không phải bao giờ người ta cũng làm như vậy. Trong nhiều trường hợp, các ngôn ngữ vẫn lấy tên gọi cũ để biểu thị sự vật hay hiện tượng mới nhờ vào những nét tương đồng giữa cá sự vật. Chỉ khi nào cần thiết, người ta mới bổ sung thêm một yếu tố khu biệt nào đó, ví dụ như yếu tố mô tả một đặc trưng hay chức năng nào đó của sự vật. Điều đó dẫn tới kết quả là một tên gọi được dùng chung cho nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau, khiến cho việc xác định ý nghĩa thực của từ nhiều khi không thể thực hiện được, nếu không có ngữ cảnh của từ. Ví dụ: Nếu không theo dõi từ đầu quá trình giao tiếp, người nghe có thể không hiểu được ý nghĩa thực của từ ‘xe’ trong câu “Chị đã mua xe chưa?”, vì rằng trong trường hợp này, ‘xe’ có thể là ‘xe máy’, ‘xe đạp’ hoặc ‘xe hơi’… Một loạt các từ như ‘bút’, ‘đàn’, ‘bánh”,… trong tiếng Việt đều nằm trong số những từ được biến đổi nghĩa theo phương thức này và nhờ đó chúng trở thành những hình vị cấu tạo từ mới theo phương thức ghép chính phụ.

Đây là phương thức phát triển ý nghĩa của từ rất phổ biến trong các ngôn ngữ. Có thể nêu một vài ví dụ: Trong tiếng Anh, từ ‘boat’ vừa có nghĩa là “thuyền” vừa có nghĩa là “tàu thuỷ” (loại nhỏ); trong tiếng Ba Lan, từ ‘pióro’ vừa có nghĩa là “cái lông” (ví dụ: ‘lông ngỗng’) vừa có nghĩa là “cái bút”; trong tiếng Pháp, từ ‘bureau’ vừa có nghĩa là “cái bàn làm việc” vừa có nghĩa là “phòng làm việc” hay “cơ quan”…

Điều đáng chú ý là trong phương thức này, thường chỉ có ý nghĩa biểu vật là thay đổi cơ bản, còn ý nghĩa biểu niệm chỉ thay đổi phần nào, trong đó nét nghĩa chính thường được bảo tồn. Thực vậy, trong từ ‘xe’ của tiếng Việt chẳng hạn, ý nghĩa biểu vật đã thay đổi rất nhiều: nó biểu thị không phải một mà nhiều loại xe khác nhau. Trong khi đó, nét nghĩa chính trong ý nghĩa biểu niệm của từ này là ‘phương tiện chuyên chở đường bộ, thường có bánh’ vẫn không thay đổi. Do đó, có thể nói rằng đây là những từ nhiều nghĩa biểu vật.

3.2. Hoán dụ

Hoán dụ là phương thức làm biến đổi ý nghĩa của từ bằng cách lấy tên gọi của sự vật, hiện tượng này để chỉ một sự vật, hiện tượng khác trên cơ sở mối quan hệ tất yếu giữa các sự vật, hiện tượng ấy.
Chúng ta hiểu quan hệ tất yếu là mối quan hệ hiển nhiên, có thể thấy được một cách trực tiếp và ai cũng thấy như nhau mà không cần phải có những thao tác tìm hiểu đặc biệt như đối chiếu hay so sánh chẳng hạn.

Thường thì các ngôn ngữ dựa vào một số loại quan hệ tất yếu để tạo ra hoán dụ. Số lượng những mối quan hệ đó có thể không giống nhau trong các ngôn ngữ. Tuy nhiên, xét trên góc độ phổ niệm, có thể nêu lên ba loại quan hệ chủ yếu sau đây:

- Quan hệ bộ phận và toàn thể, nghĩa là lấy tên gọi của bộ phận để chỉ toàn thể hoặc ngược lại. Tuy nhiên, nói chung, người ta thường lấy tên gọi của bộ phận để chỉ toàn thể mà ít khi lấy toàn thể để chỉ bộ phận. Chẳng hạn, trong tiếng Việt, ‘má hồng’ thường được dùng để chỉ ‘cô gái’, hay ‘mày râu’ chỉ ‘đàn ông’, hoặc ‘tay chơi’ dùng để chỉ ‘người ăn chơi’; ‘miệng ăn’ chỉ ‘người ăn’, song ‘con ngươi’ (con người) được dùng để chỉ ‘đồng tử’; ‘nhà’ dùng để chỉ ‘chồng’ hoặc ‘vợ’; ‘mùi’ dùng để chỉ ‘mùi hôi’…

- Quan hệ giữa nguyên liệu và thành phẩm, nghĩa là lấy tên gọi của nguyên liệu để chỉ sản phẩm hay thành phẩm làm từ nguyên liệu đó. Ví dụ: ‘glass’ trong tiếng Anh có thể là “thuỷ tinh” (nguyên liệu), song cũng có thể là “cái cốc”, “cái kính”, “ống nhòm” (thành phẩm); ‘thau’ trong tiếng Việt vừa là tên gọi nguyên liệu (đồng thau) vừa là tên gọi của thành phẩm: cái chậu làm bằng đồng thau (ví dụ: ‘thau rửa mặt’).

- Quan hệ giữa vật chứa và vật được chứa, tức là lấy vật chứa để chỉ vật được chứa trong đó. Ví dụ: trong câu “Cả nhà đi nghỉ mát.” thì ‘nhà’ có nghĩa là ‘những người sống trong nhà’ đó; trong “Cả làng vào hội.” thì ‘làng’ là vật chứa tất cả những người đang sống trong đó.

Ngoài ba loại quan hệ chủ yếu trên đây, người ta còn nói tới một số quan hệ khác nữa. Song nói chung, đó chỉ là những sự cụ thể hóa các loại quan hệ đã nêu ở trên, và trong các ngôn ngữ có thể có sự khác biệt về những biểu hiện cụ thể đó. Chẳng hạn, trong tiếng Việt có cách nói lấy tên gọi của tính chất sự vật để chỉ bản thân sự vật (ví dụ: ‘chất xám’ được dùng để chỉ ‘trí thức’) mà đó chính là loại hoán dụ dựa trên quan hệ bộ phận/ toàn thể nhưng chỉ đặc trưng cho một hay một số ngôn ngữ nào đó mà thôi.

Qua các ví dụ nêu trên, ta cũng có thể nhận thấy rằng, trong trường hợp hoán dụ, cả ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm của từ đều bị biến đổi.

3.3. Ẩn dụ

Ẩn dụ cũng là phương thức biến đổi ý nghĩa của từ bằng cách lấy tên gọi của sự vật, hiện tượng này để chỉ sự vật, hiện tượng khác trên cơ sở của sự giống nhau về một khía cạnh nào đấy giữa hai sự vật hay hiện tượng ấy.

Tuy nhiên, khác với trường hợp hoán dụ, quan hệ giữa hai sự vật hay hiện tượng trong ẩn dụ không phải là mối quan hệ hiển nhiên và có thể thấy một cách trực tiếp, do đó để nhận ra mối quan hệ này, ta phải thực hiện thao tác đối chiếu, so sánh ngầm các sự vật/ hiện tượng với nhau. Chính vì đây không phải là mối quan hệ có thể thấy được một cách trực tiếp, nên nhiều khi, sự liên tưởng ở mọi người không giống nhau, dẫn đến việc tiếp thu ý nghĩa của cùng một đơn vị ngôn ngữ theo những cách khác nhau. Đây chính là lí do vì sao ẩn dụ rất được ưa dùng để tạo ra những hiệu quả giao tiếp đặc biệt trong ngôn ngữ văn học.

Khi nói đến ẩn dụ với tư cách là phương thức biến đổi ý nghĩa của từ, người ta thường nghĩ đến những loại ẩn dụ nào có tính bền vững tương đối, nghĩa là đã được xã hội chấp nhận và sử dụng rộng rãi. Đó là những ẩn dụ trong giao tiếp thông thường, chứ không phải là ẩn dụ trong giao tiếp nghệ thuật.

Để tạo ra ẩn dụ, người ta cũng thường dựa trên một số mối quan hệ giữa các sự vật hay hiện tượng. Thường thì người ta tạo ra ẩn dụ trên cơ sở của ba loại quan hệ chủ yếu sau đây:

- Quan hệ giữa nghĩa cụ thể và nghĩa trừu tượng, nghĩa là lấy từ vốn trước đây chỉ dùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động hay đặc trưng, tính chất cụ thể để chỉ một khái niệm trừu tượng. Ví dụ: Các từ ‘chín’ trong “chuối chín” và “nghĩ chín” của tiếng Việt, ‘vưxoki’ (cao) trong ‘‘vưxoki gost’’ (‘khách quý’) của tiếng Nga, hay ‘soft’ (‘nhẹ, dẻo, mềm’) trong ‘‘soft winter’’ (‘mùa đông ôn hoà, dễ chịu’) của tiếng Anh, là những ẩn dụ loại này.

- Quan hệ giữa người và vật: lấy tên gọi của bộ phận cơ thể, hành vi, tính chất hay đồ dùng của người để biểu thị các bộ phận, tính chất hay hành động của vật. Ví dụ: ‘mũi’ trong “mũi dao”, “mũi thuyền”; ‘quất’ trong “mưa quất”, ‘mũ’ trong “mũ đinh” của tiếng Việt.

- Quan hệ giữa vật và người, tức là lấy tên gọi của vật, hoặc bộ phận, hành vi, tính chất của vật để chỉ người hay bộ phận, hành vi, tính chất của người. Ví dụ: Trong tiếng Việt, ‘cò mồi’ được dùng để chỉ ‘người làm trung gian để kiếm lời’, ‘cò hương’ được dùng để chỉ ‘người cao hay gầy’, ‘lá’ của cây được dùng để chỉ ‘lá phổi’ của người, ‘quả’ được dùng để chỉ ‘quả tim’ của người, và người cũng có thể ‘hót’ hay; trong tiếng Anh, ‘fish’ là “cá” nhưng cũng có thể là ‘người bị mồi chài’; trong tiếng Nga, ‘mesok’ là “cái bao tải” nhưng cũng có thể là ‘người vụng về’.

Qua các ví dụ trên, ta có thể thấy rằng trong phép biến đổi ý nghĩa từ bằng ẩn dụ, ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm của từ đều bị thay đổi, song giữa các ý nghĩa khác nhau của từ vẫn có một hoặc một vài nét nghĩa chung (ví dụ: hình dáng, chức năng, cách thức) – đó là nét nghĩa chi phối của từ.

Tất cả các phương thức biến đổi ý nghĩa của từ trên đây đều là những phương thức làm cho ý nghĩa của từ được mở rộng để biểu thị được nhiều sự vật, hiện tượng hơn, tức là làm cho từ trở thành từ nhiều nghĩa. Ngoài phương hướng mở rộng ý nghĩa nêu trên, người ta còn nói tới sự biến đổi nghĩa theo hướng thu hẹp ý nghĩa của từ, làm cho từ biểu thị được ít sự vật, hiện tượng hơn. Tuy nhiên, xét về bản chất, trong ngôn ngữ không có hiện tượng thu hẹp nghĩa mà chỉ có hiện tượng mở rộng nghĩa, bởi vì cái gọi là hiện tượng thu hẹp nghĩa thực chất cũng là phương thức mở rộng ý nghĩa của từ theo hướng bổ sung một hay một vài ý nghĩa/ nét nghĩa cụ thể nào đó cho từ.
Thực vậy, từ ‘nước’ trong tiếng Việt chẳng hạn, trước đây nó vốn được dùng để chỉ ‘chất lỏng’ nói chung, rồi sau đó được bổ sung thêm ý nghĩa “chất lỏng không màu, không mùi, không vị”. ý nghĩa này được sử dụng chủ yếu trong lĩnh vực khoa học. Đó chính là sự thu hẹp nghĩa. Như vậy, sự thu hẹp nghĩa của từ ‘nước’ để nó có thể làm một thuật ngữ khoa học đã làm cho nó có thêm một nghĩa mới (nghĩa thuật ngữ), bên cạnh nghĩa thường dùng trong giao tiếp hàng ngày. Nhưng đó lại chính là sự mở rộng nghĩa của từ. Vả lại, suy cho cùng thì sự biến đổi ý nghĩa của từ chính là sự thay đổi trong cấu trúc ý nghĩa biểu niệm của từ theo hướng thay thế hoặc bổ sung các nét nghĩa: các nét nghĩa khái quát của từ được thay thế/bổ sung bằng những nét nghĩa cụ thể hơn, hoặc ngược lại: các nét nghĩa cụ thể được thay thế/ bổ sung bằng những nét khái quát hơn (so sánh: ‘chất lỏng’ và ‘chất lỏng, không màu, không mùi, không vị’). Cả hai đường hướng đó rốt cuộc đều dẫn đến kết quả là làm cho từ biểu đạt được nhiều sự vật, hiện tượng hay khái niệm hơn.

________________________________________________

Posted in Ngữ nghĩa từ vựng học, Nhập môn ngôn ngữ học | Tagged: , , , , , , | Leave a Comment »

Sự biến đổi ý nghĩa của từ

Posted by tuldvnhloc on Tháng Bảy 5, 2010

LÊ Đình Tư
(Trích từ: Lê Đình Tư & Vũ Ngọc Cân. Nhập môn ngôn ngữ học. Hà Nội, 2009)

1. Biến đổi ý nghĩa của từ là gì?

Trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ của xã hội, thường xuyên xuất hiện những nhu cầu về từ và cách diễn đạt để biểu thị những sự vật, hiện tượng hay khái niệm mới, cũng như để tạo ra những hiệu quả giao tiếp mới. Song, nếu chỉ đáp ứng các nhu cầu đó bằng cách tạo ra ngày càng nhiều từ mới thì đến một lúc nào đó, hệ thống ngôn ngữ sẽ bao gồm một số lượng rất lớn các đơn vị từ vựng. Điều đó có thể làm cản trở quá trình giao tiếp, do người ta phải ghi nhớ quá nhiều đơn vị. Mặt khác, trong quá trình phát triển của xã hội, một số sự vật hiện tượng hay khái niệm bị mất đi hoặc thay đổi đi. Do đó, những đơn vị từ vựng biểu thị chúng có thể bị loại bỏ. Để khắc phục tình trạng này, ngôn ngữ một mặt cho phép sử dụng khả năng kết hợp những yếu tố hữu hạn trong hệ thống với nhau để diễn đạt cái vô hạn trong lời nói và tạo ra một số lượng nhất định các yếu tố mới, song mặt khác, cũng cho phép sử dụng những đơn vị từ vựng có sẵn nhưng thay đổi nghĩa cũ đi hoặc bổ sung thêm nghĩa mới. Khả năng thứ hai này dẫn đến sự biến đổi ý nghĩa của từ. Sự biến đổi ý nghĩa của từ là một trong những hình thức hoạt động cơ bản của hệ thống từ vựng để đáp ứng nhu cầu về các phương tiện biểu đạt. Do sự biến đổi ý nghĩa của từ mà trong các ngôn ngữ, một số từ trở thành từ nhiều nghĩa (hoặc cũng được gọi là từ đa nghĩa).

Sự biến đổi ý nghĩa của từ thực chất là lấy một từ để biểu đạt một số loại sự vật có quan hệ gần gũi với nhau về một phương diện nào đấy, cho nên giữa các nghĩa của từ nhiều nghĩa vẫn có những mối liên quan nhất định. Sự khác nhau giữa các nghĩa của từ nhiều nghĩa không phải là sự khác nhau hoàn toàn: sự biến đổi ý nghĩa ở đây thường đi theo xu hướng làm thay đổi một thành phần ý nghĩa nào đấy của từ. Do đó, nói đến hiện tượng nhiều nghĩa, ta có thể phân biệt các trường hợp:

- Nhiều nghĩa do sự biến đổi về ý nghĩa biểu vật. Đây là trường hợp thay đổi mối quan hệ giữa từ ngữ âm với sự vật hay hiện tượng (gọi là cái biểu vật). Chẳng hạn, từ ‘mũ’ trong tiếng Việt có thể có hai ý nghĩa biểu vật (ví dụ: ‘mũ đội đầu’ và ‘mũ van’), nhưng thực ra ý nghĩa biểu niệm chỉ là một (cái dùng để chụp lên đầu người hay vật).

- Nhiều nghĩa do sự biến đổi ý nghĩa biểu niệm. Đó là trường hợp làm thay đổi mối quan hệ giữa vỏ âm thanh của từ với nội dung khái niệm mà từ biểu thị (cái biểu niệm). Ví dụ: Trong từ ‘che’ của tiếng Việt, ta có thể phân biệt hai ý nghĩa biểu niệm khác nhau: 1) Dùng một vật để phủ hoặc bịt nhằm ngăn không cho nhìn thấy một vật khác, ví dụ như ‘che miệng’, ‘che mắt’; 2) Dùng một vật phủ hoặc bịt nhằm ngăn cản tác động từ bên ngoài đối với một vật khác, ví dụ như ‘che nắng’, ‘che mưa’. Trong cả hai trường hợp này, thành phần ý nghĩa biểu vật có thể chỉ là một.

- Nhiều nghĩa do sự biến đổi ý nghĩa ngữ dụng. Đó là khi có sự thay đổi về sắc thái biểu cảm của từ. Thường thì sự thay đổi này đi theo hai hướng: 1) Bổ sung sắc thái biểu cảm cho một từ vốn có nghĩa trung hoà về mặt biểu cảm, chẳng hạn như từ ‘tếch’ của tiếng Việt được bổ sung thêm ý phê phán (ví dụ: “Thế là hắn tếch thẳng”); 2) Thay đổi giá trị biểu cảm của từ (xấu đi hay tốt lên), ví dụ như từ ‘tệ’ trong tiếng Việt vốn có nghĩa tiêu cực (như trong: ‘đối xứ tệ’), nhưng có thể được dùng với nghĩa tích cực (ví dụ như trong: “Con bé ấy có duyên tệ”).

- Hiện tượng từ nhiều nghĩa là hiện tượng phổ biến trong tất cả các ngôn ngữ. Trong tiếng Nga chẳng hạn, từ ‘golova’ có thể dùng để chỉ ‘cái đầu’, ‘đầu óc’ (ví dụ: ‘sv’etnaja golova’ = đầu óc sáng suốt), nhưng cũng có thể dùng để chỉ ‘người đứng đầu’ (ví dụ: ‘gorodskoj golova’ = thị trưởng) hoặc “hàng đầu” (ví dụ: ‘idti v golove’ = đi hàng đầu), v.v…, hay trong tiếng Anh: từ ‘hand’ có thể chỉ ‘bàn tay’, ‘phía’ (ví dụ: ‘on all hands’ = từ mọi phía), ‘công nhân’ (ví dụ: ‘hands wanted’ = tuyển mộ công nhân), kim đồng hồ, v.v…

- Cần phải lưu lý một điều là không nên lẫn lộn ý nghĩa của từ với cách dùng từ. Cách dùng từ là sự lựa chọn và sử dụng từ theo một nghĩa cụ thể nào đó trong lời nói. Nó mang tính chất cá nhân và nhất thời. Trong khi đó thì ý nghĩa của từ là cái nội dung chứa đựng trong từ đã được xã hội chấp nhận và có tính bền vững tương đối. Chẳng hạn, nghĩa của từ ‘cắn’ trong ‘nước cắn da’ thuộc về cách dùng từ. Tất nhiên, khi dùng một từ, người ta phải dựa vào ý nghĩa của nó và trên cơ sở ý nghĩa đó mà phát triển thêm. Có những trường hợp, cách dùng từ được xã hội chấp nhận và sau một thời gian, nó trở thành ý nghĩa chung của từ. Ví dụ: Từ ‘tồn tại’ trong tiếng Việt nguyên được dùng để biểu thị khái niệm triết học chỉ ‘giới tự nhiên vật chất, thế giới bên ngoài có một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý kiến, tư duy, cảm giác của chúng ta’. Nhưng sau đó, trong khẩu ngữ, người ta dùng nó với ý nghĩa ‘thiếu sót, nhược điểm’ hay ‘cái còn phải tiếp tục nghiên cứu, giải quyết’ (ví dụ: “Trong hoạt động công đoàn, còn có nhiều tồn tại”), và nghĩa này đã trở nên phổ biến, được xã hội sử dụng rộng rãi.

2. Các loại nghĩa trong từ nhiều nghĩa

- Từ có nhiều nghĩa, do đó muốn hiểu đúng ý nghĩa của từ, ta phải xem xét nó trong những tình huống hoặc ngữ cảnh cụ thể (sau đây ta sẽ gọi chung là ngữ cảnh). Ngữ cảnh, nói một cách đơn giản, là tình huống, bối cảnh ngôn ngữ, trong đó từ xuất hiện với một ý nghĩa cụ thể của nó. Thông qua ngữ cảnh, ta có thể xác định được những yếu tố hạn chế phạm vi ý nghĩa của từ, làm cho nghĩa được sử dụng nổi rõ lên. Đó là các yếu tố liên quan đến người nói, người nghe, địa điểm giao tiếp, thời gian giao tiếp, môi trường ngôn ngữ của từ, v.v… Trong một ngữ cảnh cụ thể, ta sẽ hiểu đúng ý nghĩa đang được sử dụng của từ (trừ những trường hợp người ta cố ý tạo ra cách hiểu nước đôi của từ). Ví dụ: ý nghĩa của từ ‘dầu’ trong tiếng việt chỉ có thể xác định được nhờ vào ngữ cảnh, bởi vì đó có thể là ‘dầu ăn’, ‘dầu bôi trơn’, ‘dầu đun bếp’, v.v…

- Mỗi một từ nhiều nghĩa thường có nghĩa cơ bản, hay nghĩa chính, và nghĩa mở rộng hay nghĩa phụ. Nghĩa cơ bản thường là nghĩa gốc của từ, tức là cái nội dung khái niệm nguyên thuỷ mà từ được dùng để biểu thị. Trái lại, nghĩa mở rộng thường được hiểu là nghĩa được bổ sung thêm vào từ bằng cách mở rộng nghĩa cơ bản. Thông thường, nghĩa mở rộng được hình thành do sự liên tưởng với nghĩa cơ bản theo một cách thức nào đấy (ví dụ: theo sự giống nhau về hình dáng, kích thước, màu sắc, công dụng, v.v…). Chẳng hạn, từ ‘head’ của tiếng Anh có nghĩa chính là ‘cái đầu’. Căn cứ vào hình dáng, vị trí, chức năng của “cái đầu” mà người ta đã mở rộng thêm ý nghĩa của từ này và do đó, nó còn có nghĩa là ‘bắp’ (bắp cải), ‘người đứng đầu’, ‘con’ (vật), ‘thủ trưởng’, ‘hàng đầu’, v.v… hay trong tiếng Nga, từ ‘lëgki’ có nghĩa là ‘nhẹ, thưa, mỏng manh’; dựa vào nghĩa chính này, người ta đã bổ sung thêm cho nó nhiều nghĩa phụ, chẳng hạn: ‘nhanh nhẹn’, ‘dễ dàng’, ‘nhẹ dạ’, ‘hời hợt’, v.v…

- Tuy nhiên, việc xác định nghĩa chính và nghĩa mở rộng của từ nhiều khi gặp nhiều khó khăn, vì rằng trong nhiều trường hợp, ranh giới giữa chúng không thật rõ rệt. Sau một thời gian sử dụng, nghĩa mở rộng có thể dần dần trở thành một nghĩa chính khác của từ. Chẳng hạn, những ý nghĩa “trông đẹp ra”, “bán chạy”, “hút” của từ ‘ăn’ (ví dụ: ‘ăn ảnh’, ‘ăn khách’, ‘ăn thuốc’) là những nghĩa mở rộng được hình thành trên cơ sở của nghĩa chính là “nhai và nuốt thức ăn”, nhưng hiện nay các nghĩa đó đã trở thành những nghĩa chính khác của từ ‘ăn’. Nói chung, ta có thể căn cứ vào mức độ phụ thuộc vào ngữ cảnh để phân biệt hai loại nghĩa trên của từ: thường thì nghĩa chính là nghĩa mà người sử dụng ngôn ngữ có thể nói ra ngay mà không cần phải có ngữ cảnh, còn nghĩa mở rộng là những nghĩa cần phải có ngữ cảnh mới có thể xác định được. Thực vậy, khi nghe thấy từ ‘đứng’ chẳng hạn, người Việt trước tiên liên tưởng đến cái nghĩa chính của nó là “trạng thái cố định tương đối (không di chuyển), lưng giữ thẳng, chân duỗi, bàn chân giẫm đất” mà không cần một ngữ cảnh nào cả. Còn nghĩa ”được xếp hạng” của nó thì cần phải có ngữ cảnh đi kèm mới có thể nhận thấy được (ví dụ như trong: “đứng nhất lớp”). Như vậy, mức độ phụ thuộc vào ngữ cảnh của ý nghĩa từ ở đây cần được hiểu là khả năng nhận biết một ý nghĩa của từ khi từ bị tách ra khỏi ngữ cảnh, chứ không nên hiểu là sự phụ thuộc của nghĩa từ vào ngữ cảnh nói chung, bởi vì như trên đã nói, đối với một từ nhiều nghĩa thì việc xác định một nghĩa cụ thể của nó luôn luôn phụ thuộc vào ngữ cảnh.

- Ngoài việc phân biệt hai loại nghĩa như trên, người ta còn có thể phân biệt nghĩa đennghĩa bóng của từ. Song thực ra, đây chỉ là cách gọi khác của nghĩa cơ bản và nghĩa mở rộng, chỉ có điều khái niệm nghĩa bóng theo cách hiểu thông thường có nội hàm hẹp hơn nghĩa mở rộng, và do đó, người ta thường nói tới nghĩa bóng trong những trường hợp nghĩa mở rộng gợi ra sự liên tưởng nước đôi hay hiệu quả văn học. Đó là những trường hợp sử dụng từ mang tính cá nhân nhiều hơn.

- Cuối cùng, cần phải nói thêm rằng: Cũng giống như ở mặt cấu tạo của từ, mối quan hệ giữa các loại ý nghĩa trong từ nhiều nghĩa có khi mang tính chất tầng bậc và do đó, người ta cũng có thể nói tới nghĩa gốc và các nghĩa phái sinh thuộc những cấp bậc khác nhau. Chẳng hạn, từ một nghĩa cơ bản ban đầu (nghĩa gốc), người ta mở rộng thêm một nghĩa nào đấy, rồi sau đó lại bổ sung thêm một ý nghĩa khác trên cơ sở của nghĩa mở rộng đó… Ví dụ: từ ‘thẻ’ trong tiếng Việt có nghĩa gốc là ‘mảnh tre hay gỗ được dùng để viết khi chưa có giấy’; trên cơ sở nghĩa này, người ta bổ sung thêm nghĩa ‘mảnh tre, hay gỗ… có ghi một nội dung bói toán’, rồi sau đó trên cơ sở nghĩa mở rộng này, người ta lại bổ sung thêm nghĩa ‘mảnh xương hay ngà có ghi chức tước của quan lại để họ đeo ở trước ngực’ và cuối cùng từ này lại được dùng để chỉ chung tất cả các loại ‘giấy chứng nhận tư cách thành viên của một tổ chức nào đấy’ (ví dụ: ‘thẻ hội viên’, ‘thẻ đảng’, ‘thẻ khác hàng’).

(còn nữa)

__________________________________________

Posted in Ngữ nghĩa từ vựng học, Nhập môn ngôn ngữ học | Tagged: , , , , , , , , | Leave a Comment »

Ý nghĩa của từ (tiếp theo)

Posted by tuldvnhloc on Tháng Sáu 26, 2010

4. Ý nghĩa ngữ dụng

Đây là thành phần ý nghĩa liên quan đến việc sử dụng từ trong các hoạt động giao tiếp ngôn ngữ.

Trong các hoạt động giao tiếp cụ thể, ý nghĩa của từ phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoài ngôn ngữ, ví dụ như: mối quan hệ giữa người nói và người nghe, hoàn cảnh giao tiếp, các quy định của xã hội về ứng xử ngôn ngữ, các quan niệm về giá trị văn hóa …Vì vậy, ý nghĩa ngữ dụng của từ là ý nghĩa được bổ sung vào các thành phần ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm của từ trong các hoạt động giao tiếp ngôn ngữ cụ thể và nói chung rất khó xác định một cách chắc chắn. Chính vì lí do này mà khi nói đến ý nghĩa của từ, người ta thường chỉ tập trung vào hai thành phần ý nghĩa là ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm. Tuy nhiên, theo một cách hiểu hẹp hơn thì ý nghĩa ngữ dụng là thành phần ý nghĩa mà nhờ đó từ có thể biểu thị được thái độ, tình cảm của người nói và tác động đến thái độ, tình cảm của người nghe. Ví dụ: Các từ ‘thâm sì’, ‘trắng dã’ của tiếng Việt không chỉ biểu thị sắc thái ‘đen’ hay ‘trắng’ mà còn biểu thị thái độ khinh bỉ, chê bai (khi nói về môi: ‘môi thâm sì’ hay về mắt: ‘mắt trắng dã’). Theo cách hiểu này thì ý nghĩa ngữ dụng của từ là thái độ, tình cảm mà một từ có thể gợi ra.

Nói chung, ý nghĩa ngữ dụng của từ thường xuất hiện trong lời nói. Hoàn cảnh giao tiếp cụ thể sẽ làm nổi rõ thành phần ý nghĩa này của từ. Vì vậy, muốn xác định ý nghĩa ngữ dụng của từ phải căn cứ vào các tình huống giao tiếp ngôn ngữ cụ thể, tức là dựa vào ngữ cảnh hoặc/và chu cảnh vật lí, trong đó từ được sử dụng.

5. ý nghĩa ngữ pháp

Đây là những thông tin đã được mã hoá trong từ mà dựa vào đó ta có thể tạo lập hoặc nhận biết các mối quan hệ giữa các từ.

Chẳng hạn, trong từ ‘worker’ của tiếng Anh, ngoài hai thành phần ý nghĩa biểu vật và biểu niệm nêu trên, còn có các thông tin sau đây:

– là một danh từ
– là một danh từ số ít.
– là một từ phái sinh (căn tố động từ + phụ tố).

Do đó, trước nó thường phải có quán từ (‘the’ hoặc ‘a’) và khi kết hợp nó với động từ thì động từ phải được biến đổi ở ngôi số ít. Hoặc như từ ‘nhà’ trong tiếng Việt: Nó có ý nghĩa sự vật, do đó nó là danh từ; nó là danh từ có biệt loại, do đó có thể kết hợp với loại từ ‘ngôi’; nó là danh từ đếm được, nên có thể trực tiếp kết hợp với các từ chỉ số lượng. Chẳng hạn, có thể nói: ‘cái nhà này’, ‘một ngôi nhà’, ‘một nhà’… nhưng không thể kết hợp nó với ‘sẽ’ hay ‘rất’ vốn là những từ đi kèm với động từ hoặc tính từ.

Bốn thành phần ý nghĩa này được quy thành hai phạm trù ý nghĩa: ý nghĩa từ vựng, và ý nghĩa ngữ pháp

Ý nghĩa từ vựng của từ bao gồm các thành phần ý nghĩa sau đây: ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa ngữ dụng.

Ýnghĩa ngữ pháp của từ cũng bao gồm những thành phần ý nghĩa nhỏ hơn là: ý nghĩa từ pháp, ý nghĩa từ loại và ý nghĩa quan hệ (sẽ nói rõ hơn ở phần sau).

Cần phải nói thêm rằng, không phải tất cả các từ của ngôn ngữ đều có đầy đủ các thành phần ý nghĩa như đó nêu ở trên. Có những từ vừa có ý nghĩa từ vựng vừa có ý nghĩa ngữ pháp (các từ chỉ những sự vật, hiện tượng tồn tại thực hoặc được coi như có thực trong thực tế khách quan, ví dụ: bàn, tủ, lúa, gạo) – đó gọi là thực từ. Song lại có những từ chỉ có ý nghĩa ngữ pháp (các từ công cụ, ví dụ như và, với, của) – đó là những hư từ. Có những từ không có, hoặc về nguyên tắc không có thành phần ý nghĩa ngữ dụng (như trường hợp các thuật ngữ khoa học-kĩ thuật). Các từ biểu thị khái niệm trừu tượng là những từ có ý nghĩa biểu niệm mà không có ý nghĩa biểu vật, ví dụ như ‘tinh thần’, ‘thiện chí’, trong khi đó thì danh từ riêng lại chỉ có ý nghĩa biểu vật mà không có ý nghĩa biểu niệm.

_________________________________________________________

Posted in Ngữ nghĩa từ vựng học, Nhập môn ngôn ngữ học | Tagged: , , , , | Leave a Comment »

Ý nghĩa của từ

Posted by tuldvnhloc on Tháng Sáu 12, 2010

LÊ Đình Tư
(Trích từ: Lê Đình Tư & Vũ Ngọc Cân. Nhập môn ngôn ngữ học. Hà Nội, 2009)

1. ý nghĩa của từ là gì?

Khi nói đến ý nghĩa của từ, người ta thường nghĩ đến sự vật, hiện tượng hay nội dung khái niệm về sự vật, hiện tượng mà từ biểu thị. Nội dung khái niệm chính là sự phản ánh của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan vào trong từ. Chẳng hạn từ ‘nhà’ trong tiếng Việt vừa gợi ra cho ta ‘hình ảnh về những ngôi nhà’ trong thực tế khách quan, vừa gợi lên nội dung khái niệm về một ‘công trình xây dựng có mái che, có tường vách, dùng làm nơi ở hay nơi làm việc’.

Tuy nhiên, từ không chỉ có một chức năng là gọi tên sự vật, hiện tượng, hay biểu thị khái niệm. Từ còn có cả chức năng biểu thị thái độ, tình cảm của con người đối với hiện thực. Chẳng hạn, khi sử dụng các từ ‘hy sinh’ hay ‘toi mạng’, người Việt đều muốn tỏ thái độ, tình cảm (tích cực hoặc tiêu cực) của mình đối với đối tượng được nói tới và nhờ đó tác động đến thái độ, tình cảm của người nghe.

Ngoài ra, khi được dùng để đặt câu, từ còn có thêm một chức năng nữa: chức năng biểu thị quan hệ ngữ pháp, tức chức năng ngữ pháp. Chức năng ngữ pháp của từ liên quan đến khả năng kết hợp của từ với những từ khác trên dòng lời nói, và điều đó lại liên quan đến cấu trúc của từ. Chẳng hạn, khi được sử dụng trong lời nói, dạng thức từ ‘student’ (sinh viên) của tiếng Nga chỉ có thể làm ‘chủ thể ở số ít’ của động từ – đó là chức năng chủ ngữ, chứ không thể là đối tượng của hành động – tức là bổ ngữ trong câu. Điều đó được quy định bởi cấu trúc của nó: với cấu trúc hình thức ấy, nó luôn là: danh từ giống đực, số ít, nguyên cách và chỉ có thể giữ vai trò là chủ ngữ trong câu.

Do vậy, khi nói đến ý nghĩa của từ, ta cần phải hiểu rằng đó là một tập hợp của những thành phần ý nghĩa khác nhau, ứng với các chức năng khác nhau của từ.

Trong giới ngôn ngữ học, việc phân biệt các thành phần ý nghĩa của từ có thể không giống nhau. Thường thì người ta phân biệt hai thành phần ý nghĩa chủ yếu của từ: 1) ý nghĩa liên quan đến hiện thực ngoài ngôn ngữ (sự vật, hiện tượng hay khái niệm về sự vật, hiện tượng), và 2) ý nghĩa liên quan đến nội bộ hệ thống ngôn ngữ (khả năng kết hợp của từ). Song, cách phân biệt này nhiều khi không vạch được ranh giới rõ ràng cho các thành phần ý nghĩa của từ, vì hệ thống ngôn ngữ và hiện thực ngoài ngôn ngữ có liên quan mật thiết với nhau. Điều đó dẫn đến sự chồng chéo của các thành phần ý nghĩa. Bởi vậy, trong ngôn ngữ học hiện đại, người ta thường phân biệt bốn thành phần ý nghĩa của từ (ở đây phải tạm coi là từ chỉ có một nghĩa). Đó là: ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm, ý nghĩa ngữ dụng ý nghĩa ngữ pháp.

2. Ý nghĩa biểu vật của từ

Ý nghĩa biểu vật còn được gọi là ý nghĩa sự vật hoặc ý nghĩa sở chỉ. Đây là thành phần ý nghĩa liên quan đến chức năng biểu thị sự vật/hiện tượng của từ. Ý nghĩa này phản ánh bản thân các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan hoặc đặc trưng, tính chất… của chúng.

Tuy nhiên, đối tượng mà từ biểu thị lại không phải là một sự vật hay hiện tượng cụ thể, đơn lẻ nào của thực tế khách quan mà là một sự vật hay hiện tượng mang tính khái quát có thể đại diện cho các sự vật hay hiện tượng cùng loại. Thật vậy, từ ‘bàn’ trong tiếng Việt được dùng để chỉ mọi cái bàn có thể có trong thực tế khách quan, cho dù đó là bàn gỗ, bàn sắt, bàn vuông, bàn tròn, bàn ba chân, bàn bốn chân… . Từ ‘bàn’ chỉ có thể có được khả năng ấy, nếu nó không gắn với một cái bàn cụ thể nào cả. Nói cách khác, “cái bàn” mà từ ‘bàn’ trong tiếng Việt biểu thị là một cái bàn chung chung, một cái bàn đã được khái quát hoá để đưa vào ngôn ngữ. Nhờ đó, trong hoạt động giao tiếp, từ ‘bàn’ sẽ ứng được với tất cả những cái bàn cụ thể, bằng cách gợi lên trong tâm lý người sử dụng ngôn ngữ hình ảnh của những cái bàn mà họ muốn nói tới.

Do vậy, có thể nói: ý nghĩa biểu vật là hình ảnh chung nhất của tất cả các sự vật, hiện tượng cùng loại mà từ có thể gọi tên hay gợi ra. Hoặc cũng có thể nói theo cách khác: Sự tương ứng giữa từ và sự vật hay hiện tượng là sự tương ứng mang tính tổng loại (toàn loại) chứ không phải sự tương ứng theo kiểu một – một. Điều này cũng đúng với cả những trường hợp mà ý nghĩa biểu vật của từ là một sự vật duy nhất thuộc loại, ví dụ như trường hợp các từ mặt trời, mặt trăng hay thượng đế chẳng hạn, bởi lẽ ngay cả trong các trường hợp này, từ cũng loại bỏ mọi biểu hiện riêng biệt của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, chỉ giữ lại những gì chung nhất, tức là những cái có tính chất tổng loại. Ví dụ: từ ‘mặt trăng’ chỉ biểu thị một mặt trăng chung chung, mà trong thực tế có thể ứng với ‘trăng non’, ‘trăng rằm’, ‘trăng mùa hạ’, ‘trăng mùa thu’, v.v…

Như vậy, ý nghĩa biểu vật của từ không phải là sự vật hay hiện tượng đúng như nó tồn tại trong thực tế khách quan mà là một sự vật, hiện tượng thuộc phạm trù ngôn ngữ, là sự phản ánh các sự vật, hiện tượng của thực tế khách quan vào trong ngôn ngữ. Cho nên, sự vật/hiện tượng do từ biểu thị được gọi là ‘cái biểu vật’ (‘denotat’). Cái biểu vật chính là hình ảnh chung nhất về sự vật/ hiện tượng mà từ gợi ra và có thể khác nhau giữa các ngôn ngữ, thậm chí giữa các cá nhân, do đặc điểm hiện thực của mỗi dân tộc hay của mỗi người. Ví dụ : Hình ảnh ‘cánh đồng’ trong tâm trí người Nga, người Pháp và người Việt không hoàn toàn giống nhau.

(còn nữa)
________________________________________________

Posted in Ngữ nghĩa từ vựng học, Nhập môn ngôn ngữ học | Tagged: , , , , , , , , | Leave a Comment »

Tặng phẩm của ngôn ngữ: Thói “ăn” nếp “ở” của người Việt qua cách nói

Posted by tuldvnhloc on Tháng Ba 30, 2010

Ngô Nguyên Dũng

Không biết có phải do hoàn cảnh thiếu ăn thiếu mặc từ xa xưa, mà người Á đông nói chung, người Việt nói riêng, đặc biệt quan tâm tới miếng ăn. Ăn không phải chỉ để sinh tồn, mà còn để hưởng thụ: Ăn đứng đầu tứ khoái. Ăn cho sướng miệng cái đã, mấy chuyện khác tính sau.

Ở đâu lúc nào, một mình hay nhiều mình, cũng thấy ăn. Thui thủi, trơ trọi ở nhà, lục lọi coi có cái gì ăn cho đỡ buồn. Ra đường, đi chơi hay lo việc, trước hay sau gì cũng phải kiếm cái gì dằn bụng. Ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, ăn tối, ăn khuya. Vì vậy, trong tiếng Việt có vô số động từ đôi đi chung với “ăn”. Điểm này không thấy có trong ngôn ngữ của các dân tộc khác.

Nhưng “ăn” nhiều khi lại không có nghĩa là “ăn”, mới lạ!

Tụ họp đình đám, lễ lạt giỗ tết, người mình nói “ăn cưới”, “ăn tết”, “ăn giỗ”, “ăn cúng”, “ăn đám ma”, … Từ “ăn” trong những nhóm chữ này rõ ràng là hành động đưa thực phẩm vào miệng, nhai rồi nuốt, không thoát đi đâu được. Giống như “ăn” trong “ăn khín”, “ăn chực”, cũng là “ăn”, nhưng hàm ý không mấy tốt, tới ăn không ai mời, hoặc có mời nhưng sau đó lại nhiếc móc sau lưng: “Cái thằng đó ưa tới nhà mình nhằm giờ cơm để ăn khín mà không biết mắc cỡ!” Nhưng “ăn chực” trong thành ngữ “ăn chực nằm chờ” lại ngụ ý: kiên nhẫn chờ được giải quyết một vấn đề gì đó. Có lẽ bắt nguồn từ xưa: mỗi khi dân chúng từ những nơi xa xôi có việc tới nhà quan ở chợ, ở tỉnh, ở kinh thành, thường đem theo đồ ăn thức uống để lót bụng, vì biết chắc thế nào cũng phải chờ đợi lâu lắc, lắm khi dăm ba ngày liên tiếp; ăn để chực chờ tới lượt được vô hầu quan lớn.
Phong cách ăn uống, nói năng giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong truyền thống phong tục, lễ giáo của người Việt. Con cái, đặc biệt là con gái (vì thời xưa không được tới trường), được cha mẹ dạy cho “học ăn, học nói, học gói, học mở”, coi như những chuẩn mực để xử thế và giao tiếp trong gia đình, họ hàng và ngoài xã hội. Nghĩ rộng, thấy bốn món “công, dung, ngôn, hạnh” được gói ghém gần như trọn vẹn trong đó. (Tới đây, người viết xin được mở dấu ngoặc, đặt dấu hỏi lớn về nghĩa đen và nghĩa bóng của cụm từ “học gói, học mở” trong thành ngữ này. Tự điển Việt ngữ có vài cách giải thích khác nhau, không biết thực hư ra sao?). Vậy, “ăn” khi đi chung với “nói” được hiểu là đối đãi, cư xử. Nhưng khi cặp kè với “nhậu”, tuỳ theo cách nói, lại có nghĩa hoàn toàn khác: “Chuyện vợ chồng người ta không ăn nhậu gì tới mình, mình xía vô đâm ra mất lòng.” Ở đây, không biết vì nỗi niềm trắc trở gì mà “ăn nhậu” cương quyết chia tay, không còn luyến tiếc chút dư vị nào của “ăn uống, nhậu nhẹt” nữa, để cải trang, đổi lớp thành “dính líu, dính dáng”. Lạ, nhưng không lớn!

Chuyện lớn chỉ thực sự xảy ra, khi “ăn”… lỡ chung chạ với “nằm”. Mẹ quát con gái: “Hả, cái gì? Bộ đui hay sao mà mày ăn nằm với cái thằng trời đánh thánh đâm, lưu manh láu cá đó? Trời ơi là trời, con ơi là con!” Nhất định là phải có “ăn” vô đây thì “nằm” mới trọn nghĩa “tằng tịu” của nó, và được dùng để ám chỉ những trường hợp chung đụng xác thịt không chính thức. Vợ chồng với nhau, không ai (hoặc không nên) nói “ăn nằm”, mà nói “ăn ở”. Khi người vợ rưng rưng nước mắt trách cứ: “Vợ chồng mình ăn ở với nhau bảy mặt con, không còn tình cũng còn nghĩa, mình nỡ lòng nào ăn nằm với con ở. Bây giờ, nó chang bang một bụng, em biết ăn nói sao đây với con cái?” Nghe thương xót biết mấy! Và, “ăn nói” trong tình huống này, có thêm nghĩa “giải thích, làm sáng tỏ”, ở đây là lý do tại sao cái bụng chị ở không dưng càng ngày càng phình 1ớn một cách vô cùng khó hiểu.

Chuyển qua “ăn vụng”. Nghĩa đen ý nói “giải quyết cái đói một cách lén lút”: “Nhà tôi có tật ăn vụng ban đêm, khuya nào cũng thức dậy, xuống bếp lục cơm nguội.” Chuyện không sao cả. Nhưng tới lúc nàng nghiến răng trèo trẹo cảnh cáo: “Tôi nói cho anh biết, anh mà lén tôi đi ăn vụng, tôi biết được, đừng có trách tôi ác!” Và, tới khi bạn gái trề môi nhún mỏ rỉ tai nhau: “Ai kêu, ăn vụng không biết chùi mép, bị vợ đuổi ra khỏi nhà, đáng đời!”, thì chuyện đã… mọc trăng sao, đang tối thành sáng trưng; hành động “ăn vụng” trở mặt, chỉ còn độc nhất một nghĩa bóng: “Đã có gia đình, còn đi ngoại tình.”

Trực tiếp hay gián tiếp cùng nghĩa với “ăn”, trong tiếng Việt có “ăn xin”, “ăn mày”: “Xin” người khác để có miếng ăn, để sinh sống (chữ “mày” trong “ăn mày” ngụ ý gì, có dính dáng gì tới “mày ốc”, “mày ghẻ” hay không, người viết không rõ.) Không riêng gì ở Việt nam, mà khắp nơi trên thế giới, đều có người ăn mày. Thậm chí, như ở Việt nam, có cả làng sống bằng nghề ăn mày, từ đời cha tới đời con. “Ăn mày”, vì vậy, nghiễm nhiên trở thành cái nghề. Để rồi, từ “nghề” chuyển ra “nghiệp”, đâu mấy hồi. Sinh ra, vướng nghiệp “ăn mày”, cuộc đời hẳn nhiên rách, rách lắm. Đâu mấy ai nhờ đó mà “ăn nên làm ra”?

Ở Pháp, tin mạng có trang “Ăn mày văn chương”, nghe rất “ấn tượng”. Nhưng cá nhân tôi không thấu đáo hai chữ “ăn mày” ở đây hàm ý gì. Văn chương chữ nghĩa là tặng phẩm của ngôn ngữ dành cho tất cả chúng ta, nào phải sở hữu riêng ai để mình xin xỏ hay đem bố thí cho người khác!

Qua tới các động từ “ăn cắp”, “ăn trộm”, “ăn cướp” thì đột nhiên “ăn” không còn ý nghĩa là hành động giải quyết cái đói nữa (hay có, nhưng rất gián tiếp), mà: lấy của người khác làm của riêng.
Ca dao có câu:

Con ơi học lấy nghề cha,
Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm.

Thì ra, không phải chỉ có nghề “ăn mày”, có cả nghề “ăn trộm” nữa kia. Và, cái nghề này hứa hẹn một tương lai sáng sủa hơn nhiều. “Ăn trộm” trúng mẻ, trời ạ, “thu nhập” ngang ngửa tới ba năm làm. Nghe bắt ham!
Dĩ nhiên, đã là nghề thì phải có trường ốc đào tạo, để học viên rành rẽ bài bản sáu câu mùi mẫn sau khi tốt nghiệp học đường “ăn xin”, và có chiến thuật tiến thoái gọn gàng, êm thắm, không để lại dấu vết khi thành tài “ăn trộm”. Theo học trường ốc ở đây, học viên không cần ghi danh, đóng lệ phí, cũng không nên hy vọng sẽ có ngày được… bảng vàng ghi tên. Tất cả mánh mung được “sư phụ” chỉ giáo cho “đệ tử”, và hẳn là… lén lút theo truyền thống dân gian truyền khẩu, cha truyền con nối. Vì vậy, không thấy lưu lại sách vở, tài liệu gì, để hậu bối đưa lên tin mạng cho người viết… tiện việc tra cứu.

Trong văn chương, nữ sĩ Trúc Giang tự thú trong hồi ký “Tình yêu nuôi tôi lớn”, đã “ăn cắp thì giờ của con, của chồng để viết truyện, để làm thơ”. Động từ “ăn cắp” được chị biểu tượng hoá, sử dụng ẩn dụ rất khéo, đọc nghe ái ngại, không biết rồi chị có… bị sao không, có bị chồng con thưa ra toà phạt vạ hay tù tội gì không?

Trong khi “ăn cắp” và “ăn trộm” mang nghĩa lén lút, lặng lẽ, lấm lét lấy “cắp” và lấy “trộm” của người khác làm của riêng, thì “ăn cướp” là dùng võ lực lấy công khai, nhiều khi sử dụng cả dao găm, súng đạn để tước đoạt cho bằng được.

Con ơi nhớ lấy câu này,
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan
.

Khổ cho dân mình quá! Nhưng không phải chỉ có khổ không đâu, cũng có trường hợp dân chúng nhờ cướp mà sướng. Thời xưa, ở Tây có anh hùng Robin Hood, ở Tàu có “108 anh hùng Lương Sơn Bạc”. Rủi thay, chỉ sướng… ảo, vì các vị anh hùng thảo khấu nêu trên toàn là những nhân vật huyền thoại. Thời nay, tin mạng loan tin, ở Mỹ có anh quản lý ngân hàng “vừa bị tuyên án 41 tháng tù giam vì tội đã lấy tiền ở một số tài khoản của ‘người giàu’ bù vào tài khoản của ‘người nghèo’ tại ngân hàng nơi anh ta làm việc.” Khi bị phát giác, anh được các nhà tâm lý học chẩn bệnh, rằng anh mắc phải “hội chứng Robin Hood”. Dù vậy luật sư vẫn không cứu vãn cho anh được trắng án. Ấy, ngoài “hội chứng ăn cắp”, còn có thêm “hội chứng ăn cướp” nữa kia! Biết đâu chừng, dám có cả “hội chứng ăn chực, ăn khín” nữa, mà khoa tâm lý học chưa tìm ra!
Đàn bà, con gái khi không có gì ăn, tối tối ra đường ăn… sương, riết thành chuyên nghiệp: mang danh “gái ăn sương”, không được ai thương hại, mà còn bêu rếu. Thời đại bây giờ, đàn bà, con gái không còn độc quyền hành nghề này nữa, cả nam giới và, buồn thay, ngay cả thiếu niên nam nữ cũng nhảy vô cạnh tranh. Còn động từ “ăn đêm”, tôi nghĩ, không hẳn đồng nghĩa với “ăn sương”, mà gần với “ăn khuya” hơn. Ngoài ra, còn được dùng để chỉ “hành động đi kiếm mồi trong đêm tối” của muông thú, như trong bài đồng dao ru con:

Con cò mày đi ăn đêm,
đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao…

Ỷ mạnh hoặc vai vế lớn, người miền Bắc nói “bắt nạt”, người miền Nam dùng động từ “ăn hiếp”, thường nghe trẻ con hài tội lẫn nhau: “Thưa cô, trò A ăn hiếp con, mượn con cục gôm, con đòi không chịu trả, còn kí đầu con nữa!”

Khi có kẻ thừa cơ “chôm” của, hoặc đợi anh hùng hảo hán ra tay trước, rồi hùa theo lấy, người Việt mình nói “ăn hôi”. “Ăn tàn” trong thành ngữ “theo đóm, ăn tàn” cũng có nghĩa tương tự như vậy: “Cái thằng đó là hạng người ‘theo đóm ăn tàn’, không hiểu sao mầy ăn ở với nó tới sáu mặt con!” Nghe hèn lắm. Còn “ăn mót” nghe lại thấy tội: “Vợ chồng nó chuyên môn ăn mót lúa của người ta mà sống”, và chẳng có gì đáng hãnh diện, vậy mà tục ngữ có câu:

Muốn ăn cơm ngon, lấy con nhà đi mót.
Muốn ăn canh ngọt, lấy con nhà bắt cua.

Câu đầu, tôi không biết phải hiểu sao cho đúng. Có lẽ ở đây không hẳn chỉ nói chuyện đi mót lúa đem về nấu cơm? Và cả hai câu hàm ý bóng gió, khuyên người đời nên biết chọn ý trung nhân cho đúng… tâm nguyện “ăn uống” chăng?

Còn “ăn” trong “ăn quịt” nguyên thuỷ hẳn có nguồn gốc “ăn xong, lỉnh mất, không trả tiền”. Về sau được dùng chung cho mọi trường hợp, khi tiền bạc không được thanh toán sòng phẳng. Hai bà chủ nợ khuyên nhủ nhau: “Chị coi chừng cái thằng cha X, bản mặt nó bảnh bao vậy chớ chuyên môn mượn tiền rồi ăn quịt.” Nhưng khi “ăn” cặp kè với “vạ”, ngộ nghĩnh thay, “ăn” bay mất nghĩa gốc. “Ăn vạ” là tiểu xảo thường thấy ở tâm lý lì lợm của trẻ con và… cầu thủ đá banh. Nhiều bà mẹ thường than phiền: “Thằng út nhà tôi, mỗi lần đòi gì không được là lăn ra ăn vạ, khóc lóc thảm thiết, thấy ghê lắm!” Hoặc: “Cầu thủ Y cố tình ăn vạ, thay vì được quả phạt đền, lại bị trọng tài phạt vạ thẻ vàng.” “Ăn” trong trường hợp này, có lẽ gián tiếp ngụ ý “cầu thắng, để đạt được mục đích” chăng?

Tương tự như trong chuyện bài bạc. Vợ chồng Năm Chuột sống bằng nghề “bài ba lá”. Ngày nào đi làm về, anh Năm cũng bị vợ vặn hỏi: “Bữa nay ăn thua sao rồi?” Không chạy đi đâu, “ăn” ở đây đồng nghĩa với “thắng”. Giống như trong thành ngữ “ăn thua đủ”, có nghĩa “so tài đọ sức cho tới lúc thắng thua minh bạch mới thôi”: “Tư Lùn là tay anh chị thuộc hạng dế ốc tiêu, vậy mà gan cùng mình, dám ăn thua đủ với dế cơm Hai Búa, không sợ sứt càng gãy gọng sao ta!” Hoặc trong “ăn gian”: Gian lận để thắng. Nhưng nhiều khi còn được sử dụng thay cho “gian dối”: “Cô hoa hậu ăn gian chiều cao, cao có 1 thước 55 thôi mà dám nói cao tới 1 thước 72. Thiệt, xạo hết ý!” Chuyện nhỏ. Còn có người “ăn gian” trí thức nữa kia! Hãy nghe chị em bạn gái tâm sự với nhau: “Chị lấy nó về làm chồng, mới biết nó là đứa ăn gian bằng cấp, đi du học Liên-xô chỉ được bằng phó tiến sĩ thôi, mà dám khoe mình là tiến sĩ, nghe có tức không?”

Có ai muốn dằn mặt, cảnh cáo kẻ khác, chỉ cần đeo vũ khí, đạn dược cho “ăn” là đủ: “Nói cho mầy biết, chớ có đụng vô con nhỏ đó, chồng nó cho mầy ăn dao tức thì!” Hoặc khi đi chung với những hành động không mấy nhẹ nhàng như “tát”, “đấm”, “đá”, v.v… thì “ăn” có nghĩa “nhận lãnh, lãnh lấy hậu quả” không mấy êm đẹp. “Con bé coi vậy mà dữ, tao chỉ mới khều mông một cái nhẹ hều, đã bị nó cho ăn tát.” Đối với trẻ con, ăn gì cũng thích, chỉ không hảo mấy món “ăn đòn”, “ăn roi”, “ăn chổi lông gà”, v.v… mà thôi.

Gặp trường hợp bà mai đưa ảnh cho anh chàng kiếm vợ coi mặt, thòng theo câu nói: “Tại con nhỏ chụp hình không ăn ảnh, chớ ngoài đời cổ ngó coi đẹp gái lắm, chú à!”; hoặc có ai đó chặc lưỡi xuýt xoa: “Cô đào X lúc nhỏ té thùng đinh, mặt rỗ như tổ ong, vậy mà phấn son lên sân khấu, ăn đèn dễ sợ!”; từ “ăn” mất bén nghĩa gốc, mà có nghĩa “thích hợp, hoà hợp” với kỹ thuật chụp ảnh, trong “ăn ảnh”, cũng như với ánh đèn sân khấu, trong “ăn đèn”.

Nghĩa cũng gần như vậy, người Việt nói “ăn nhịp”, thường được sử dụng khi đàn ca hát xướng, và “ăn khớp” để chỉ trường hợp nói năng, hành động sao cho hợp lý, không mâu thuẫn nhau. Anh dẫn em đi quán bia ôm, trước khi về nhà, dặn dò thằng em: “Má hỏi, mày nhớ nói là mình đi ăn sinh nhật cho ăn khớp, không thôi bả đánh cho nát đít!”… Cùng nghĩa như vậy, nhưng đi đôi với tiếng… nước ngoài, Việt ngữ có động từ “ăn rơ”, với “rơ” được phiên âm từ jeu (trò chơi, cuộc chơi) của tiếng Pháp mà ra. “Trời ơi, chị em nhà Williams chơi quần vợt đôi ăn rơ với nhau hết sức.” Lẽ đương nhiên, cách nói này chỉ bắt đầu thông dụng từ khi có mặt người Pháp, ở thành thị, cũng như trong giới có… ăn học.

Phần trên có nhắc tới động từ kép “ăn ở”, ngoài ý nghĩa “đời sống vợ chồng” còn hàm ý chỉ “cách xử thế, đối đãi” với nhau, như trong trường hợp vợ Năm Chuột than thở cùng chồng: “Lúc nào vợ chồng mình cũng ăn ở hiền lành, phước đức, mà sao nghèo hoài hổng biết!”, nhưng khi người mẹ xẳng giọng với anh con trai đã ngoài năm mươi mà vẫn còn độc thân: “Mầy cứ ăn ở keo kiết như vậy, có chó nó lấy mầy làm chồng.” Hoặc khi cô con gái lắc đầu nguây nguẩy: “Con không ưng anh ấy đâu, người gì mà ăn ở dơ dáy như heo!”, nghĩ kỹ, thấy ra “ăn ở” đổi nghĩa hoá thành “thói ăn nếp ở” hoàn toàn có tính cách cá nhân, không đụng chạm gì tới người khác.

Thành ngữ Việt nam có vô số câu liên quan tới “ăn”. “Ăn không”, tiếng miền Nam, cùng nghĩa với “ăn vã”, tiếng miền Bắc, ý nói, chỉ ăn món chính, không kèm theo cơm, cháo, v.v… Khi đi chung với “ngồi rồi”, thành “ăn không ngồi rồi”, có nghĩa “rỗi việc”, nhưng không mấy tốt, gần như “vô tích sự”: “Từ khi anh ấy bị muỗi voi chích tới giờ, suốt ngày ảnh ăn không ngồi rồi, bí rị một chỗ, thấy chán lắm!”

“Ăn xổi”, với trạng từ “xổi” (“qua loa, tàm tạm”, thí dụ: cà pháo muối xổi), thuần tiếng Bắc, đi chung với “ở thì” (“ở ngắn hạn, nhất thời, có giai đoạn”), thành “ăn xổi ở thì”: nghĩa đen ý nói kẻ nào ăn ở với ai đó một thời gian ngắn để trục lợi, nghĩa bóng ám chỉ hạng người chỉ biết lợi dụng, bạc tình bạc nghĩa. Truyện Kiều có đoạn, khi chàng Kim lơi lả buông lời ong bướm (ngôn ngữ hiện đại nói là “thả dê”) đòi… ăn nằm, nàng Kiều bèn thỏ thẻ xổ… Nho và thành ngữ cảnh giác:

Phải điều ăn xổi ở thì,
Tiết trăm năm, nỡ bỏ đi một ngày!

Rõ là nàng Kiều được Vương ông Vương bà dạy cho “học ăn, học nói, học gói, học mở” khéo thì thôi!
Khi đứng trơ trọi một mình, “ở” có nhiều nghĩa, và không phải chỉ giữ vai trò động từ: “Anh ở lại đây với em tối nay nghe! Ở một mình, em sợ ma quá hà!”, mà cũng có thể là giới từ chỉ định xuất xứ, vị trí: “Cô ấy ở quê mới lên, nên ưa đi chân không ở trong nhà.”

Khi “ở” kết bạn với “đậu”, có nghĩa “sống nhờ, sống cậy” vào người khác. Với “đợ”, hoặc với “người” thành “người ở”: “tới sống chung để giúp việc nhà có lãnh lương”. “Con nhỏ đó ở dưới quê lên Sài gòn ở đậu nhà bà con, chờ kiếm ra chỗ ở đợ.” Với “vậy”, theo tôi, có hai nghĩa: “ở vá”: độc thân, không lập gia đình” (có tự điển ghi thêm, “vá” cũng còn có nghĩa như “goá”). Hoặc, “ở goá: sau khi vợ hoặc chồng chết, không lấy người nào khác.” V.v… và v.v… Tựu trung, trong tất cả những trường hợp nêu trên, “ở” có nghĩa “hoàn cảnh gia đình”.

Ở trên có nhắc tới “ăn không”, với “ở” ta có “ở không”: rảnh rỗi, không làm gì cả. “Nhân lúc vợ ở cữ, thi sĩ ở không, bèn lấy giấy viết tí toáy làm thơ tình gởi đăng nhật trình.” Tới đây, ta có thêm “ở cữ”: hoàn cảnh, thời gian sau khi sinh nở, cần kiêng cữ.

Thời trước, thi sĩ trào phúng Tú Mỡ có làm bài thơ tựa đề: “Sư cô ở cữ”.

… Nhưng rồi một sáng mùa thu,
Người ta thấy vị ni cô sượng sùng.
Bụng đeo cái trống cà rùng,
Đến nhà thương để tìm phòng khai hoa …

“Ăn” với “ở”, tóm lại, thường đi đôi với nhau như hình với bóng, như đũa có đôi, như môi răng, miệng lưỡi đặc thù hương vị ngôn ngữ của người Việt. Người viết xin được kết thúc bài tiểu luận ở đây với câu ca dao “hậu hiện đại” tự biên tự chế:

Ăn có đũa, ở có đôi.
Bậu ơi, khéo giữ trọn đời có nhau.

______________________________________________________

Posted in Ngôn ngữ học tri nhận, Ngôn ngữ và văn hóa, Ngữ nghĩa từ vựng học | Tagged: , , , , | 1 Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 81 other followers